.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


KÝ ỨC THÀNH CỔ 
BÌNH ĐỊNH (bài 2)

                   


Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934 – 1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).


Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là chùa Bửu Long ở gần cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.
Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.
Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.
Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.

Thành có ba cửa còn để lại dấu tích:
-In đậm trong ký ức tôi là cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam). Dấu tích còn lại của cửa này (mãi với thời gian gần đây) là bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót, cho người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Trước mặt cửa Tiền là một bến sông hằng ngày vẫn còn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vang vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến Trường Thi không xa (trong làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử Triều Nguyễn, còn bến "My Lăng'' của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:
                 "Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                  Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
                  Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
                  Ông lái buồn để gió lén mơn râu". 

-Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định, cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết, ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược... khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.

            -Cửa Đông mở thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Nghe nói, ngày xưa cửa Đông chính là cửa để đón quan Công sứ, các quan ta về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Ngày xưa, đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo. Chợ Bình Định là chợ Khu Vực, chung cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…cho nên chợ được xây dựng với quy mô to lớn (cột lều bê tông – cốt thép, khung lều sắt tây, mái lợp ngói Phú Phong ) hàng hóa nhiều, không thiếu những mặt hàng nổi tiếng của Bình Định, như đồ cẩn xà cừ, đồ đồng thau, đồ thêu thùa, tơ lụa, đường cát... Và có cả trâu khỏe, bò sức, ngựa hay… bán ở Chợ Gia súc gần đó.
          -Cửa Bắc, theo các cụ cao niển kể, đây là cửa dành cho việc dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này đã lấp kín từ rất sớm, đâu sau thời đòi giảm sưu thuế (1908), có nhiều người bị hành hình.

           Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía Đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là hòn Ông, hòn Bà hùng vĩ, uy nghi; tương truyền hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ núi “hít”! Phía Tây, dòng sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Bảy Yển thường đổ nước ầm ào, bọt tung trắng xóa, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: thành Hoàng Đế, núi Bà, hòn Mò O (còn gọi là hòn Mù U) tháp Cánh Tiên, tháp Phốc Lốc, chùa Thập Tháp A Di Đà... Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:
               ''Ngó lên hòn núi Mù U
               Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
                Một ông xách chén đi đơm
                Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần''.
Người ta vẫn bảo, đó là câu ca dao tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước :
                    “Nước Tân An có bao giờ cạn
                   Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
                   Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
                   Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn''.

Má tôi thường đọc ''Vè ông Tiến sĩ'', tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè ''Đêm năm canh kèn thổi tò toe / Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện / Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển / Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu'' cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem, đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình.

             Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù. Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng họ đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm đấu tranh và  mơ ước.

          An Nhơn ngày nay là một thị xã có cơ cấu kinh tế công – nông – thương mại – dịch vụ hiện đại trên cơ sở “An Nhơn - đất trăm nghề” có truyền thống từ xưa giờ. Các thành phần kinh tế này đang hoạt động có hiệu quả. Thành cổ Bình Định được quy hoạch và xây dựng thành khu vực hành chánh của thị xã với nhiều khối nhà to đẹp, bề thế. Cửa Lầu (tên gọi sau khi người ta đã gỡ bỏ hai chữ Cửa Đông) là địa điểm thường tổ chức các sinh hoạt văn hóa – văn nghệ của Hội Văn học – Nghệ thuật và Trung tâm văn hóa thị xã.

(1) Theo Nước non Bình Định của Quách Tấn.


Huỳnh Kim Bửu



Về thăm trường cũ
Viên sỏi nhận ra mình
Ghế bàn làm mặt lạ
Thời gian cũng lặng thinh…

Về thăm trường cũ
Nhìn mây nhớ tóc thầy
Bạn bè giờ tứ xứ
Cơn mưa nhòa bóng cây.

Về thăm trường cũ
Lòng như là nôi đưa
Gió thổi xanh đến giờ
Câu ơn thầy nghĩa mẹ.

Đi suốt dãy hành lang xưa
Tìm bóng thầy nơi cửa lớp
Thấy mây bay lớp lớp
Trên vòm trời xanh lơ.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012


Thơ Huỳnh Kim Bửu




Chiều thị trấn Phú Phong



Chiều thị trấn Phú Phong
Mặt trời đâu lặn sớm
Gió núi thổi qua đồng
Thơm mùi thơm dâu, mía

Chào chị gánh tơ vàng
Nhịp chiều theo chân bước
Đẹp sao các cô nàng
“Xùng xình” áo lụa mới (1)

Chiều thị trấn cao vọi
Trăng nước ngã ba sông
Bảo tàng Vua soi bóng
Dấu xưa còn oai hùng

Đi giữa lòng thị trấn
Chiều cứ trôi, cứ trôi…
Mục đồng về trên phố
Trâu cọ sừng tường vôi

Phú Phong ơi, Phú Phong
Ánh lửa chài năm cũ
Đồng Đá Đen (2) trăng phủ
Tiếng quân reo vọng về…

(1)  “Xùng xình áo lụa mới may
     Hôm qua thấy bận bữa nay mất rồi” (Ca dao Bình Định)
(2)  Cánh đồng nổi nhiều tảng đá đen,
tiếp giáp phía bờ tường rào Bắc Bảo tàng  Hoàng đế Quang Trung.

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012


Huỳnh Kim Bửu



Trăng lên mũi Tấn (1) là chiều
Bơ vơ xóm Đạo tàu tiêu gọi nồm
Sông trôi nên cát bồn chồn
Trăm năm rồi cũng nhập hồn cỏ lau.

Sang chơi dắt lưng túi trầu
Chuyện cùng hàng xóm bã trầu thêm tươi
Có chơi leo ngọn Dốc Trời
Hái sim chín đỏ hái Thu chín vàng.

Cậy chi áo mũ rỡ ràng
Gốc đa ông Táo võ vàng cái thân

Lên chùa đĩnh đạc chữ Tâm
Về nhà ngồi tựa trăng Rằm là vui.

----------------------------------------------------
(1)Một địa danh thuộc Quy Nhơn xưa.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012


04 October, 2012 15:11
Có 2 tuyến nội dung chạy dọc cuốn tiểu thuyết này, và có thể, tùy theo cái tạng của từng độc giả, tuyến nào sẽ có tác động mạnh mẽ hơn tới tâm trí họ. Tuyến thứ nhất, những lo lắng, ám ảnh về sự bất an của nhân loại trước hàng loạt những nguy cơ đã thấy và sẽ thấy trước cơn lốc hiện đại hóa, toàn cầu hóa. Tuyến thứ hai, câu chuyện tình vô cùng lãng mạn của Gấm và anh nhà báo.
Theo cảm nhận của cá nhân độc giả là tôi, có lẽ, người viết còn thiếu chút gì đó để tạo sự nhuần nhuyễn giữa hai vỉa mạch nội dung này. Nó khiến người đọc phải phân thân, phải tự tách bạch lý trí và tình cảm khi trải nghiệm từng trang sách. Những trang cuối của tiểu thuyết, khi người viết tập trung tinh thần và trí lực vào việc miêu tả cảm xúc và cái chết của cô Gấm, khi anh dường như quên đi mất cái mạch nội dung thứ nhất thì hình như trang văn có được vẻ thống nhất hơn.
Nhưng theo ý riêng tôi, rõ ràng, người viết không hề vụng dại trong kỹ thuật viết khi tạo dựng 2 vỉa mạch nội dung tưởng như hoàn toàn chẳng liên quan gì đến nhau trong cuốn sách này. Cái anh muốn “đánh động” tới tất cả độc giả chính là cái vỉa nội dung thứ nhất, nhưng cái anh muốn lắng lại trong lòng người đọc, lại chính là cái vỉa nội dung thứ 2. Cuộc sống rồi sẽ còn tiếp diễn khôn lường, nhân loại sẽ, dù muốn hay không, phải trải qua vô vàn những cuộc khủng hoảng và suy kiệt khác vì lòng tham lam, ích kỷ, nhưng tình yêu vẫn sẽ là điểm tựa duy nhất và cuối cùng của con người sau tất cả những biến cố, suy vi đó. Người viết dụng công miêu tả những khoảnh khắc thăng hoa, lãng mạn tới mức không tưởng trong mối tình thứ 3, và cũng là mối tình cuối cùng, của Gấm. Và anh cũng đã dụng không không ít trong việc khắc họa tới mức “nhìn thấy, sờ thấy” những nguy cơ khủng khiếp của nhân loại trong từng bước đi hôm nay. Người ta cần phải thoát ra ngoài để nhìn rõ hơn những thứ ở bên trong một không gian hạn hẹp. Với Trương Văn Dân, phải chăng, với quãng thời gian hơn 40 năm sống và làm việc tại Italia, nhưng vẫn không thôi dõi đôi mắt đau đáu yêu thương và trăn trở về tổ quốc, đã cho anh con mắt nhìn thật sâu, thật thấm thía về những nguy cơ có thật đã, đang và sẽ xảy ra trên đất nước mình. Những bãi rác công nghiệp độc hại đang ngày càng trở nên lộ liễu và bành trướng, nạn ô nhiễm môi trường, thực phẩm độc hại, những cuộc mua bán hôn nhân trần trụi, trơ tráo giữa người Việt và người nước ngoài, những cuộc hội nhập, toàn cầu núp danh các mỹ từ để một nhóm người có cơ hội thao túng từ kinh tế cho đến chính trị của một quốc gia, vùng lãnh thổ, và thậm chí là cả khu vực rộng lớn hơn thế. Ai dám bảo đó là những nỗi lo vô cớ? Ai dám bảo đó là chuyện của thiên hạ, là trách nhiệm của những người có vai vế trong xã hội, trong thế giới? Không, đó là những điều rất nhỏ đang tác động vào cuộc sống mỗi ngày của chính chúng ta. Là mớ rau có màu xanh đậm và non mướt tới mức nghi ngờ trong bữa cơm gia đình. Là những xóm, những làng ung thư đang ngày một trở nên phổ biến trên cả nước. Là những đứa trẻ bị trưởng thành, dậy thì sớm do uống phải những loại sữa có chứa chất kích thích tăng trưởng hormone ngay từ thuở sơ sinh, v.v… Đọc những trang văn có phần luận chiến nhiều hơn miêu tả, giãi bày của Trương Văn Dân, những ai còn có lương tri và hiểu biết thật khó mà yên được.
Và giữa tất cả những ám ảnh bất an đó, tình yêu của Gấm như một con suối mát lành cố như muốn làm dịu đi sự gay gắt, nhức buốt của hiện thực. Mới đọc sách, tôi cứ tưởng người viết đang trở lại với lối viết tiểu thuyết theo kiểu “ba xu” của những cuốn sách in chữ to dành cho những bà nội trợ, bán hàng thuê đọc ngày xưa. Ấy vậy mà càng đọc, càng thú vị và thấm thía với những khoảnh khắc đầy trải nghiệm sâu sắc của một người vốn đã nhấm nháp khá nhiều cái dư vị chua chát của cuộc đời. Đọc sách của trương Văn Dân, thấy anh đọc nhiều văn chương của bạn bè, của các tác giả lớn trên thế giới, lại cũng thấy anh mê kinh Phật, mê những triết lý gần gũi với cuộc đời hơn là những mớ lý thuyết suông, nghe thì vô biên mà thực chất chẳng đem lại chút giải thoát, thanh thản gì cho cuộc đời. Tiêu đề cuốn sách không hiểu sao gợi một cảm giác thật xót thương. “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, nó phải chăng cũng chính là biểu tượng về thân phận của con người giữa cuộc đời này. Mỗi thân phận đang trôi đi giữa dòng đời có lẽ cũng chỉ là một bàn tay nhỏ, chẳng che nổi chính mình, sao có thể che đỡ nổi cho ai khác giữa cơn mưa dông ập tới. Cơn mưa cuộc đời chẳng chừa ai cả. Nó trút xuống mỗi số phận, mỗi bàn tay nhỏ, dù bàn tay đó chấp nhận buông xuôi hay vẫn luôn gắng gượng che chắn trong hy vọng.
Có lẽ, với tình yêu, tôi đã đọc được nhiều trang sách trước khi đến với Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân. Nhưng với toàn cầu hóa, với hiện đại hóa được đưa vào văn chương, anh là người đầu tiên khiến tôi cảm nhận được sự gần gũi và sát thực đến thế của những câu chuyện, những vấn đề mang tầm cỡ nhân loại. Người ta phải đủ uyên bác tới mức thế nào mới có thể nói một cách giản dị về những điều phức tạp. Trương Văn Dân đã làm được điều mà tôi cho rằng không hề đơn giản. Người ta nói đông, nói tây, nhưng những câu chuyện của đời sống hàng ngày, những điều đe dọa cuộc sống hàng ngày thì không phải ai cũng có khả năng lý giải thuyết phục. Tôi chỉ tiếc, giá như anh “mềm” hơn nữa trong cách ứng xử với những tư liệu về thời sự, chính trị, kinh tế, xã hội, “mềm” hơn trong cách đưa chúng vào văn chương, tạo ra những bối cảnh, những kết cấu để chúng xuất hiện tự nhiên hơn thì chắc chắn, tác phẩm của anh sẽ thành công hơn nữa.
Có lẽ, tôi là một người đọc nhiều lý trí hơn tình cảm nên thực sự bị lôi cuốn vào mạch nội dung thứ nhất. Và rất chủ quan, tôi đồ rằng, người viết cũng dụng công vào mảng nội dung này hơn là những trang viết, dù rất công phu, kỹ lưỡng, anh dành cho cuộc tình của Gấm. Vẫn biết rằng, dù nhân loại có tiến đi đâu đi nữa thì câu chuyện của văn chương vẫn chỉ loay hoay quanh những vấn đề của tình yêu và cái chết mà thôi. Nhưng để cảm nhận được sâu sắc giá trị lớn lao và đích thực của tình yêu, người ta cũng lại phải hiểu thật rõ những nguy cơ, những mối hại mà đời sống đang làm nảy sinh ra thêm trong tiến trình phát triển này đối với tình yêu. Chẳng phải chính những nhu cầu hưởng thụ, ham vật chất của thời hiện đại đang làm con người xa lánh nhau hơn đó sao? Chẳng phải chính những truyền thông về thái độ, quan điểm sống tôn sùng giá trị vật chất đang đẩy con người thành những cỗ máy, những rô bốt lãnh cảm, từ lúc mở mắt đi làm cho tới khi nhắm mắt bước vào giấc ngủ chỉ đau đáu với ý nghĩ làm thế nào kiếm được thật nhiều tiền đó sao? Trên thực tế, thế giới hiện đại với tất cả những tổng lực của nó đến từ nhiều phía đang tạo ra một guồng quay khốc liệt với những thang bậc giá trị được định hình vô lối. Người ta bị ảo tưởng giữa những lời khen, những tung hô tưởng như rất thực, song thực tế lại là những viên kẹo bọc đường. Thế giới hiện đại có khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra những hệ thống mỹ từ có thể xoa dịu, đánh tráo khái niệm với những sự thật vốn trần trụi và thô thiển hơn rất nhiều. Người ta bị “đánh bả” bởi những ngôn từ mỹ lệ như “hội nhập”, “toàn cầu”, “phát triển bền vững”, “hai bên cùng có lợi”, v.v… Rõ ràng, tất cả những áp lực kinh hoàng đó đang khiến con người xa rời nhau, xa rời những tình cảm chân thành, đúng mực, những giá trị sống căn bản, cốt lõi của loài người vốn tôn thờ qua bao nhiêu thế hệ. Vậy nên tôi vẫn nghĩ, câu chuyện tình của Gấm, rốt cuộc, chỉ là một cái đòn bẩy để Trương văn Dân nói nhiều hơn về những nguy cơ của thời đại đối với con người, với tình yêu và những giá trị nhân bản lớn lao. Gấm chết bởi sao? Chẳng phải chính bởi ung thư, căn bệnh vốn đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của toàn thế giới trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây và khoảng mươi năm gần đây với người Việt Nam đó hay sao? Vì sao có ung thư? Câu trả lời có lẽ chẳng cần nói ra ở đây nữa. Bởi gần như xung quanh cuộc sống của mỗi người Việt Nam bây giờ, việc tìm ra một người chết vì căn bệnh này xem ra quá đơn giản. Cái chết trở thành điều bình thường cũng là một ám ảnh quá đỗi kinh hoàng của thời đại chúng ta đang sống.
Mặc dù người viết (hoặc nhà xuất bản) đã định danh thể loại cho cuốn sách này là “tiểu thuyết”, nhưng tôi muốn thêm vào hai chữ “luận đề” vào đó. Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết trình bày quan điểm của người viết về những nguy cơ ở tầm thế giới nhân loại đang diễn ra khốc liệt ngày hôm nay. Người viết đã khéo léo tìm một cách nói rất “trữ tình”, dù đôi lúc anh không thể vịn vào cái áo trữ tình đó khi nội dung luận bàn về quan điểm trở nên quá “chật chội”. Nhưng theo ý riêng của tôi, ở một chừng mực nhất định, Trương Văn Dân đã nói được cái điều anh định nói một cách giản dị nhưng vô cùng thuyết phục. Cuốn sách của anh là một món quà quý với những độc giả ham chuộng tư tưởng khi đọc văn chương.
Hà Nội ngày 3-9-2012
Dương Kim Thoa 

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



KÝ ỨC THÀNH CỔ BÌNH ĐỊNH

Dong lai 
                                                           

Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934 – 1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).

Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là chùa Bửu Long ở gần cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.
Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.
Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.
Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích leo lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu thì mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.
Thực ra là có bốn cửa thành.
Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định, cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết, ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược...khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.
In đậm trong ký ức tôi là cửa Tiền thành Bình Định. Mặc dù cửa này đã sụp đổ, hoang phế mà bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót vẫn còn đó, người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Và còn nữa, trước mặt cửa Tiền thành là một bến sông hằng ngày vẫn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến sông không xa (trong làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định được lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử, còn bến "My Lăng'' của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:
                 "Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                  Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
                  Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
                  Ông lái buồn để gió lén mơn râu" 

            Cửa Đông thành Bình Định mở ra cho thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Nghe nói hồi xưa, cửa Đông cũng là cửa để đón các quan trên về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo.
        Chợ Bình Định là chợ Khu Vực, chung cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…cho nên chợ được xây dựng với quy mô to lớn (cột lều bê tông – cốt thép, khung lều sắt tây, mái lợp ngói Phú Phong ) hàng hóa thì nhiều, không thiếu những mặt hàng nổi tiếng của Bình Định, như đồ cẩn xà cừ, đồ đồng thau, đồ thêu thùa, tơ lụa, đường cát... Và có cả trâu khỏe, bò sức, ngựa hay… bán ở Chợ Gia súc gần đó.
          Còn cửa Bắc là cửa dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này bị lấp kín lại từ lâu lắm, không để lại một dấu tích gì, ngoài các cụ già kể lại.

           Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía Đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là hòn Ông, hòn Bà hùng vĩ, uy nghi; tương truyền hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ “núi hít”! Phía Tây, dòng sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Phụ Ngọc thường đổ nước ầm ào cũng bát ngát, mênh mông, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: thành Hoàng Đế, núi Bà, hòn Mò O (còn gọi là hòn Mù U) tháp Cánh Tiên, tháp Phốc Lốc, chùa Thập Tháp A Di Đà... Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:
               ''Ngó lên hòn núi Mù U
               Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
                Một ông xách chén đi đơm
                Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần''.
Người ta vẫn bảo, đó là câu ca tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước :
                    “Nước Tân An có bao giờ cạn
                   Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
                   Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
                   Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn''.
Má tôi thường đọc ''Vè ông Tiến sĩ'', tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè ''Đêm năm canh kèn thổi tò toe / Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện / Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển / Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu'' cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem, đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình.

             Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù. Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm mơ ước.

          An Nhơn ngày nay là một thị xã có cơ cấu kinh tế công – nông – thương mại – dịch vụ hiện đại trên cơ sở “An Nhơn - đất trăm nghề” có truyền thống từ xưa giờ. Các thành phần kinh tế này đang hoạt động có hiệu quả. Thành cổ Bình Định được quy hoạch và xây dựng thành khu vực hành chánh của thị xã với nhiều khối nhà to đẹp, bề thế. Cửa Lầu (tên gọi sau khi người ta gỡ bỏ hai chữ Cửa Đông) là địa điểm thường tổ chức các sinh hoạt văn hóa – văn nghệ của Hội Văn học – Nghệ thuật và Trung tâm văn hóa thị xã.

                                                                                                 
 (1) Theo “Nước Non Bình Định”  của Quách Tấn.

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012


ĐỜI MONG MANH LẮM, hãy yêu nhau

   (Vài cảm nhận khi đọc “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA” tiểu thuyết của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN )
                      (cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)

              Trần Kim Đức







Gấm, nhân vật chính trong truyện với số phận bế tắc, đã trải qua hai đời chồng không hạnh phúc, có một cô con gái tên là Liên. Gấm luôn khao khát một tình yêu đích thực, đi tìm một nửa của đời mình. Và đến gần bốn mươi tuổi, Gấm cũng đã tìm được một nửa mình đã mất. Cô đón nhận hạnh phúc với người đàn ông là nhà báo đã có vợ, nhưng vợ và con đã chết trước khi gặp Gấm. Tưởng đã gặp một tình yêu đích thực và hạnh phúc bên nhau đến trọn đời, nào ngờ Gấm tiếp tục đón nhận những éo le của số phận đời mình với căn bệnh ung thư “Những tháng ngày hạnh phúc vừa qua rồi sẽ tan biến trong khoảnh khắc”.

 
 
Tình yêu mà Gấm đã dành cho người đàn ông nhà báo là tình yêu hiến tặng, họ luôn mang đến hạnh phúc cho nhau từng ngày, từng giờ. Với họ không có  thứ tình yêu hệ lụy. Tình yêu đã làm cho Gấm quên đi những khổ đau của đời mình : “Khi sống với nhau, Gấm thường cho mình yếu đuối, nhưng thật ra nàng là người đàn bà lãng mạn và can đảm nhất trần gian. Cho đến phút chót, nàng đã không chạy trốn mà còn thách đố với đời để giành lấy tình yêu từ tay thần chết, dâng hiến cho người tình một cuộc ái ân vừa cuồng say vừa đầy nước mắt, hương vị đậm đà cho đến giọt cuối cùng của niềm hoan lạc.

Rồi vĩnh viễn yên nghỉ trong vườn địa đàng.

Vì  yêu thương mà sợ mất mát. Và vì biết mất mát nên càng muốn hiến dâng. Khi ý thức được  đời sống của mình mong manh quá nên Gấm muốn trao tặng cả bản thân cho một tâm hồn đồng điệu rồi ra đi chẳng có gì hối tiếc.”

Cả  hai đều  đón nhận một tình yêu đích thực, họ biết xoa dịu lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau để tìm đến đỉnh cao của hạnh phúc: “Vậy đó, anh có một khả năng hóa giải rất đặc biệt. Nỗi buồn chưa kịp định hình thì anh đã làm cho tan biến. Đang có điều lo lắng, ưu tư, anh bước đến ôm đầu tôi, áp hai trán và hai đỉnh mũi chạm vào nhau để làm tôi bật cười. Thế là nỗi lo bay đâu mất”

Tình yêu là nghiệp ái, cuộc đời này là vô thường, hạnh phúc rồi cũng như giọt sương, rất đỗi mong manh, dễ tan vỡ. Chuyện hợp tan là do nhân duyên, vì thế mà họ rất trân quý và đón nhận tình yêu trong từng ngày, từng giờ. Họ luôn tha thứ cho nhau và chấp nhận nhau mà sống thật trọn vẹn hạnh phúc với một nửa mình tìm thấy: “..Tôi cảm nhận ngay điều đó từ những phút đầu tiên. Cảm giác mơn man khi vừa gặp một người mà như đã thân quen. Cuộc sống vốn lạnh lùng với những quan hệ hời hợt trong công việc, thân thiện mà xa cách… còn chúng tôi như đi vào đời nhau, bước vào thế giới riêng tư bí mật không rào, không đón. Cảm giác thuộc-về đã nhen lên ngọn lửa ấm áp từ ngày đầu tiên… rồi nàng cảm phục… và tôi cũng trải lòng cho người mình thương mến. Và cứ như thế… chúng tôi yêu nhau như hai dòng suối hòa lẫn vào nhau, biến thành một dòng sông êm đềm có chung dòng chảy…”

Họ  đã nuôi dưỡng tình yêu của mình bằng tâm “bất sinh, bất diệt”, để yêu thương và sống thật hạnh phúc bên nhau, vì : “Chỉ trong tình yêu, con người mới tìm ra lẽ sống của mình. Bởi chết vì tình yêu thì đâu có nghĩa là chết. Mà chỉ là hiến dâng. Là cái chết trong muôn lần chết. Và tình yêu sẽ đi vào cõi vô sinh vô diệt”. Thật diệu kỳ!

Thoạt  đầu, tôi đã bị lôi cuốn bởi lời  giới thiệu trong cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của nhà văn & dịch giả Nhật Chiêu : “Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống-chết, khổ-lạc, sáng-tối, mất-còn, ngã-tha, cũ-mới, tự nhiên-văn minh, vô thường-vĩnh cửu….

Chọn  điều này sẽ phải bỏ điều kia và như  vậy khác nào đánh mất cả hai?

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô  vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất kinh Duy Ma”

Nhìn thẳng vào sự trần trụi  như vốn đã có trong cuộc sống thực của con người mà không qua lăng kính của định thức, con người ngoài bản năng còn có ý thức, những cuộc ái ân mặn nồng, hoan lạc  vốn là bản năng trần tục của con người nhưng khi tình yêu thăng hoa đã  gắn kết hai thân xác với nhau như chỉ còn lại một hình hài duy nhất nó sẽ trở thành một bản thể tốt đẹp, cái mà triết học Đông phương gọi là âm dương hòa hợp : “Trong phút giao hòa ấy, chúng tôi tưởng như chỉ còn lại một hình hài duy nhất. Hai xác thân từ trong tiền kiếp bị chia lìa giờ hòa làm một, xác thịt quay cuồng trong bão tố, nạp nguồn nhiên liệu từ ngọn lửa tràn đầy sinh lực của khát vọng. Tôi ôm lấy Gấm, cả hai tận hưởng dư vị của trái cấm trong cảm giác say sưa. Rã rời và buông thả. Hình hài quằn quại như đớn đau nhưng hoan lạc vươn lên đỉnh điểm”.

Tình yêu  đã giúp cuộc sống của họ thăng hoa giữa một xã  hội buộc con người phải chạy đua với mọi thứ. Nói đến đây tôi lại nhớ đến lời bài hát của Trịnh Công Sơn: “Một ngày tình cờ biết em là ngày lạ lùng biết trần gian”. Biết em rồi mới biết trần gian, đó cũng là cái tội của Eva đã nghe lời con rắn quỷ quyệt dụ dỗ ăn trái cấm là trái biết thiện, biết ác và dụ dỗ Adam cùng ăn. Tưởng là ăn trái cấm rồi sẽ biết đâu là  thiện-ác, đâu là tốt-xấu, tưởng là sẽ được khôn ngoan, hạnh phúc, nhưng sau khi ăn xong Eva và Adam tự thấy xấu hổ và lấy lá che lại. Suy cho cùng, thiện hay ác, đẹp hay xấu,…  là do con người quy định. Cuối cùng họ phải rời khỏi vườn địa đàng và cũng từ đó  có chốn trần gian với hỷ, nộ,  ái, ố, lạc, dục  đầy bất trắc. Tác giả đã chuyển tải các vấn đề rất mạch lạc, từ sự gian tham, tàn ác và dục vọng của con người, con người đã tự hủy hoại những cái hay, cái đẹp, phá hoại cái gốc tự nhiên vốn có của mình và  môi trường : “Nếu xưa kia các nền văn minh cổ đại đều xem là thiêng liêng, là các yếu tố căn bản của sự sống thì nay tất cả đất, nước, khí, lửa  đều bị ô nhiễm và toàn bộ hệ sinh thái đang bị rối loạn sự cân bằng. Bác nghĩ là trong sự hỗn loạn đó, chỉ cần một tế bào bị nhiễm độc thôi là sẽ không hoạt động bình thường, mà đột biến lớn lên như vũ bão và trở thành một khối bầy nhầy, de dọa và triệt tiêu cuộc sống. Hiện nay chúng ta có rất nhiều căn bệnh mới vì sự sống bị đảo lộn và càng ngày càng có nhiều hệ động- thực – vật tuyệt diệt, không thể tái sinh. Thế mà khi đọc các tài liệu về cách phòng ngừa ung thư, người ta còn khuyên chúng ta hãy sống trong môi trường sạch đẹp, bầu không khí trong lành. Thật là mỉa mai! Vậy chúng ta, con người hiện đại sẽ tìm đâu để có được một điều kiện sống như vậy?..”.
Quay cuồng trong cơn lốc bạo tàn của định mệnh, dù đớn đau vật vã trong một thế giới gian tham lam, ô nhiễm... thế nhưng Gấm và người tình vẫn đấu tranh, chấp nhận và tha thiết yêu thương: Một tình yêu mãnh liệt mà đọc lên ai cũng phải thèm khát với những trang viết về sự hoà nhập giữa thể xác và tâm linh đầy cảm xúc và cực kỳ linh động.
Tôi nghĩ, Trương văn Dân đã đưa tình dục vào tác phẩm văn học là để nói đến cái gốc tự nhiên của con người, nói lên sự thánh thiện của tình yêu, bộc lộ sự giải tỏa những ức chế và sự cô đơn trong cuộc sống, để trở về sống với con người thật của chính mình. Hơn nữa để lột trần sự thật  mà con người thường cứ cố né tránh, không dám nhìn vào sự thật như cái thực của tình yêu ở cõi trần gian : “Cảm ơn em, vì nhờ có em mà anh hiểu được một tình yêu vừa thánh thiện vừa mê say trên cõi đời này là có thật. Tình yêu đó vừa nhẹ nhàng vừa mãnh liệt, vì chúng mình đã yêu nhau trong ý thức, trong vô thức và cả trong tiềm thức. Tình yêu đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn và thể xác để cho tất cả cảm xúc tình yêu ào ạt tràn vào. Và, đúng không em, như thế đã là quá đủ để anh có thể an ủi mình rồi bước đi trên thế gian này trong tháng ngày còn lại, cho đến khi nằm xuống”.

Cảm nhận này là một cách đọc của riêng tôi với tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Nhà văn Trương văn Dân đã làm cho tôi nhận ra được nhiều điều trong cuộc sống để đạt đến sự an vui và tự tại.
Trần Kim Đức
Nguồn :   (trankimduc.wordpress.com)
Tập san  Quán Văn 008- 9-2012

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012


VỀ HKB

  NHÂN ĐỌC “ TRONG NHƯ TIẾNG HAC BAY QUA”

         NHỚ BẠN HIỀN...

     Tạp Bút :
    Mang Viên Long


      Trong Như Tiếng Hạc Bay Qua” là tập tản văn & bút ký thứ 2 ( tác phẩm thứ 3) của Huỳnh Kim Bửu vừa được nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành vào quý 3 năm 2011. Tác phẩm đầu tay là: ”Nơi Con Sông Côn Chảy Qua” (nhà XB Trẻ 2009). Tôi đã được đọc cả hai tập tản văn & bút ký này của anh bởi chúng tôi vẫn thường gặp nhau và gởi tặng “quà sách” cho nhau như một niềm vui, niềm an ủi cần chia sẻ trong cái phố thị nhỏ hẹp buồn hiu này
        Vẫn giọng văn trong sáng, giản dị, và thâm trầm – HKB đã nhẩn nha, đã tẩn mẩn, đã thong dong ghi lại những điều quanh anh ( cả quá khứ & hiện tại) một cách thích thú và chăm chỉ! Anh từ tốn, chậm rải, có chút trang trọng nhớ thương trong hoài niệm để miệt mài ngày đêm bên trang viết - đi hết những khắc ghi nầy, đến sự mô tả kia – những gì đã cho anh một thời quan tâm, gắn bó, sồng và nhớ đến như một điều không thể nào quên trong đời. Đọc văn anh – những bài bút ký về những đề tài hết sức gần gũi, có thể nói là tầm thường ( như cái chõng tre, cái phản, cái ao làng. cái nhà bếp. bộ ngựa gõ, cho đến ổ bánh mì nòng giòn, cau, gác trọ…) – nhưng tôi luôn luôn “tủm tỉm cười” vì sự thích thú, đôi khi ngạc nhiên vì sự tế nhị chăm chút tỉ mỉ của anh để làm cho những gì “đã chết đi” sống trở lại tươi mát và mới lạ!
         Bên cạnh những bài bút ký ghi đậm tính chất của “hoài niệm”và “tư liệu” được anh khéo léo (và trầm tĩnh) trình bày – là những  bài tản văn mượt mà hơn, dung dị và tinh tế hơn – đã được HKB “kể lại” như lời thì thầm trò chuyên thân tình.( nào là: kỷ niệm chiều, thưa mẹ quê xưa, ngồi buồn nhớ những rạ rơm, chim kêu dưới suối Từ Bi, tản mạn buổi Thu sang, cho đến đêm Xuân Hòa còn nghe tiếng vó ngựa Tây Sơn, quê nhà, nắng mới vân vân), Bốn mươi bốn bài tản văn ( & Bút ký) trong Trong Như Tiếng Hạc Bay Qua” là một cuộc hành trình dài đầy thú vị đưa đẩy người đọc “sống lại & nhớ thương” bao kỷ niêm thời vàng son xa cũ, dồng thời truyền đến hơi ấm đậm đà của quê nhà, của nghĩa tình qua bao đổi thay dâu bể!
          Theo thiển ý của tôi – một bạn văn & bạn đọc, thì ở Bình Định -ngoài nhà văn lão thành kỳ cựu Võ Phiến HKB là một trong vài người đã viết bút ký thành công với lòng đam mê hiến dâng, cùng sự kiên nhẫn cao độ cho dầu anh đã qua khỏi lớp tuổi “xưa nay hiếm”= là một điều  rất đáng trân trọng.
          Có một điều lạ lùng là mỗi khi đọc văn anh ( tản văn hay bút ký), tôi như hình dung ra được con người anh, đang gặp anh, đang được nghe anh từ tốn kể chuyện vậy! Hình ảnh anh hiện ra cùng trang viết êm nhẹ, tươi mát, mời gọi. Tôi “biết” anh (cũng như anh “biết tôi”) từ những năm trước 75 khi anh đang dạy học ở Phú Phong, còn tôi đang dạy học mãi tận Tuy Hòa. Là đồng hương ( và đống môn Cường Đễ Quinhon) nhưng vì hoàn cảnh đi lại khó khăn, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Thuở ấy – HKB cũng chưa dành thời gian để viết nhiều – chỉ “làm thơ cho vui” vậy thôi. Tôi thật sự được “gặp & kết thân” với anh từ những năm đầu năm 2000 khi tôi đã về quê An Nhơn được 20 năm, đang giúp Hội VHNT An Nhơn làm công tác biên tập văn xuôi, mà HKB là một tác giả thường xuyên cọng tác.
            Bận nào về thăm quê Nhơn An (anh đã về sống tại Qui Nhơn) –HKB cũng ghé thăm tôi một chút. Anh luôn đi với một người bạn đồng hương láng giềng chở giúp vì không thể đi xe gắn máy. Dù chỉ thăm hỏi, trò chuyên mươi phút (đủ uống một tách trà,  hút một điếu thuốc – tôi hút, anh thì không) cũng là giây phút thật vui, thật ấm tình bằng hữu. HKB thường về quê “ăn giỗ” ( của bà con ở quê, của bè bạn cũ , hay của các chùa làng mà anh rất thân thiết với vị trụ trì…) – thường  ghé “rủ tôi ăn giỗ” cùng anh! Chưa bao giờ tôi được đi “ăn giỗ” với anh cả ( dù đã trên mười lần anh ghé chơi & mời) – vì tôi rất bận bịu việc nhà. Tôi cười: “ Ông không nhớ ông bà dặn rồi sao? “ăn bữa giỗ, lỗ bữa cày” mà!”! “ Và tôi không hề muốn “lỗ bữa cày” nên về sau – anh chỉ ghé thăm chơi mà không mời “ đi ăn giỗ với mình” nữa!
             Tôi thường rủ anh đến một quán café nào đó có chỗ ngồi thoáng mát yên tĩnh – để trò chuyện cho thoải mái trước khi anh về lại Qui Nhơn. Anh không hề hút thuốc. Được mời mọc – nể tình lắm, anh cầm điếu thuốc phì phà, trông tội nghiệp! Từ đó, tôi chỉ “hút một mình” – không dám mời! HKB cũng không “ghiền” café. Có lần ( vì vô tình – chưa biết rõ ý bạn) tôi gọi 2 ly café, anh cũng uống. Nhưng chỉ “uống cầm chừng & cầm cự” – không thấy anh thoải mái – nên những lần gặp sau – tôi để tùy anh gọi…
             HKB sống rất chừng mực và điểu độ trong mọi sinh hoạt. Anh là một thầy giáo đã về hưu. Cuộc sống ổn định. Sáng sớm nào cũng cùng bạn (có khi với NTH, NPL HH, T …) đi bộ tập thể dục, ra biển bơi lội ( hay ngắm thiên hạ chơi…) – trước khi vào bàn viết buổi sáng - sinh hoạt rất đều đặn. Anh luôn quan tâm đến bạn bè; hòa đồng, gần gũi, thân tình với tất cả anh em, chưa hề vắng mặt trong các dịp chia sẻ vui buồn cùng các bạn và gia đình – nên những người cầm bút ở Bình Định rất quý mến và trân trọng anh. ( Cách nay mấy hôm – nhận được tin trễ & không được khỏe – anh phone lên thăm hỏi – và nói “ cho mình đóng góp như anh em khi phúng diếu gia đình phía vợ TQK nhé!. Tôi đã cười: “ Anh yên chí – không sao. Xong rồi!”). Dù có tuổi – nhưng anh luôn có mặt trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Các dịp gặp gỡ & phát hành báo cuối năm của Hội VHNT AN, anh cũng gắng lên tham gia ( cách xa nhà trên 20 cây số). Anh quan tâm đến các sinh hoạt văn học nghệ thuật trong tỉnh – nhất là những người viết trẻ. Nhiều lần anh đã nhắc tôi: “ Anh nên động viên MN làm đơn gia nhập Hội VHNT tỉnh để có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, tiến bộ - bởi tôi nhận thấy trong rất hiếm người viết văn xuôi nũ của Tình, MN viết rất chững chạc, có tiềm năng, và rất triển vọng! Tôi sẽ là người tình nguyện giới thiệu MN…”
              Dường như Tết nào anh cũng về thăm quê và ghé thăm tôi với Đặng Tấn Tới. Tôi được quen ( và thân ) với TVD – cũng nhờ anh giới thiệu. ( TVD là học trò của anh thuở trước 75 ở Tây Sơn). Dịp nào nhà văn nầy về thăm quê QN – anh và TVD cũng thường lên AN thăm chơi. Tết năm 2005. chúng tôi có tấm ảnh chụp chung “bộ tứ” tại nhà ĐTT rất ưng ý! ( xin gởi kèm theo đây để cùng “coi chơi” vậy). Tôi cảm thấy “hơi thất lễ” với anh – bởi anh ghé thăm tôi thì nhiều – mà tôi đến nhà thăm anh ( ở QN) thì ít cho dầu BĐ- QN chỉ cách nhau 20 cây số! Cần gì – thì chúng tôi “hú”nhau qua điện thoại – cũng vui! Tôi nghĩ, có lẽ - anh rất hiểu tôi mà không nỡ giận?
              Ngồi viết đôi điều tản mạn về anh nhân đọc “Trong Như Tiếng HạcBay Qua” anh đã gởi tặng tôi khá lâu, như một lần thăm anh – cho đỡ nhớ vậy!
              Hẹn gặp uống tách trà Cung Đình nhà anh nhé – bạn hiền!


Đêm 23 tháng 8 năm 2012
MANG VIÊN LONG

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012


Huỳnh Kim Bửu
 
  Tiếng hạc bay trên dòng sông Côn. 
             Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.         Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.

 

      Giữa khu vườn thơ văn bề bộn, hoa và lá đua chen, hai quyển sách của Huỳnh Kim Bửu xuất hiện với một phong cách đặc thù, một giọng nói riêng đã vẽ lên một tâm cảnh rất khác.
      Thoạt nhìn, tôi chú ý ngay đến tựa của hai tập sách: “Nơi con Sông côn chảy qua1 và “Trong như tiếng hạc bay qua2 - cả hai đều có một chữ qua - Có thể đó chỉ là một tình cờ, có lẽ không phải là dụng công của tác giả, nhưng tôi thấy thật thú vị vì hai chữ qua đó đều nói về quá khứ, về một thời đã mất...
      Thật thế, nhẩn nha đọc khi còn ở Milano (Ý ) những trang viết của Huỳnh Kim Bửu đã đưa tôi quay về hồi ức, lội ngược thời gian…
      ...Gần bốn mươi năm sống ở nước ngoài, khi bước vào những trang sách của ông tôi như bất ngờ trở lại quê mình. Tôi như vừa nhìn thấy một bụi chuối sau vườn, chợt bắt gặp một ánh trăng soi trên đỉnh tháp hay có khi nghe tiếng gà gáy sáng… rồi có lúc lại tưởng như mình đang dạo bước giữa không gian thoang thoảng hương sen, thần trí mơ hồ, không biết từ đâu vừa vẳng lên một tiếng chuông chùa.
      Chuông dội lại trong lòng, không lớn lắm, nhưng ngấm sâu và đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ. Như ngọn đèn mờ bỗng dưng loé sáng. Những áp lực của cuộc sống trời Tây dường như không còn nữa. Những bon chen, phù phiếm bay đi đâu hết. Trong tôi chỉ còn nghe một thứ rung cảm kỳ bí. Tình quê.
      Lật tiếp những trang sách, tôi thấy nhiều những đoạn văn hay, những chi tiết thật thú vị  bất ngờ  về cuộc sống của một thời quá vãng ngay trên chính quê hương mìmh mà tôi còn chưa biết... Những cô gái mài vỏ ốc cẩn xà cừ, bôi một thứ  phẩm xanh để ngừa nước ăn da nên ra đường phải giấu hai tay trong nếp áo. Hay ông lão kỳ lạ, câu cá chỉ vì phải ăn để sống, chứ bữa nào dùng không hết thì ông lại đem ra bến để trả cá về với sông. Huỳnh Kim Bửu cảm nhận thời tiết qua phẩm vật mùa màng, dựa vào cây trái và hoa lá để minh chứng là Bình Định quê ông cũng có đầy đủ bốn mùa chứ không phải chỉ hai mùa mưa nắng. Mùa Xuân: chuối, bưởi cam; hoa mai, hồng, vạn thọ. Mùa Hè:  xoài, mít; hoa phượng, sen đầm; MùaThu: mận, nhãn lồng; hoa cúc. Rồi Mùa Đông: lại quay về với chuối; còn các thứ hoa thì vàng úa, tàn tạ, chỉ còn hoa giấy phất phơ trong cảnh gió mưa...
      Nhẩn nhơ dạo chơi theo từng trang sách tôi không khỏi có cảm giác như đang ngồi bên chiếc võng nghe ông đong đưa kể chuyện, rồi khi buông xuống, chợt thẫn thờ vì cảnh và người trong chuyện đã vời vợi xa, không còn nữa. Lòng vời vợi buồn vì những chuyện đổi thay hình như không theo lẽ tự nhiên, kiểu làn sóng sau thay làn sóng trước... mà cảnh cũ mất đi vì những áp đặt của con người. Thời buổi “toàn cầu”, lòng tham cũng theo đó được toàn cầu hóa, ai nấy sục sôi chạy đua làm giàu bằng mọi giá, kỹ thuật được vận dụng tối đa, tài nguyên được khai thác tận lực…Cảnh quan tươi đẹp của đất nước, của các vùng quê thanh bình ngày càng bị xé nát, thay vào đó là sự hỗn độn, khô cứng đến vô hồn, cuộc sống trở nên vật vờ và giả tạo. 
      Giọng kể của ông đều đều, như không quan tâm đến việc đổi mới câu chữ. Ông viết như trải lòng, tâm tình với người đọc trong một đối thoại thầm lặng mà không kém phần sôi nổi.
     Giọng điệu ấy thật khác với rừng rừng chữ nghĩa, chạy theo bút pháp này, trường phái kia, từng làm tôi hoa mắt trước nhiều quyển sách “lạ”, tin theo những lời giới thiệu có cánh, những bài phê bình ngoại giao, phe nhóm rồi mua về, đọc đi đọc lại mà không biết tác giả muốn nói gì. Ở đây, trong hai quyển sách của Huỳnh Kim Bửu, tôi gặp lại những áng văn bình dị, không cầu kỳ hay xun xoe chữ nghĩa… nhưng những câu chữ như có mang chút ánh sáng lấp lánh, soi chiếu những miền ký ức, gợi nhớ những kỷ niệm tưởng đã quên lâu và chìm khuất sau lớp bụi dày của thời gian.
     Rõ ràng cách tân gì thì cách tân, văn học không thể chỉ chạy theo bút pháp mới lạ, nhưng nghèo ý tưởng, duy lý đến khô cứng, rời bỏ cảm xúc, thiếu đi nỗi lòng của con người khi nhìn thế sự đổi thay. 
        Thực ra trước đây tôi cũng đã từng đọc những bài viết riêng lẻ của ông, thế nhưng giờ đọc lại một mạch trong toàn tập, cái nhìn tổng thể càng tô đậm trong tôi một cảm giác man mác buồn, man mác nhớ về một thời quá vãng, không chỉ là tâm lý hoài cổ, mà còn là nỗi băn khoăn về những giá trị của một thời cần phải được lưu giữ nay đã không còn. Đọc tạp văn mà cảm giác như mình đang đọc cổ thi, đang thả bước lang thang, dạo quanh khu thành quách hoang phế của những trường thành Bình Định, nơi đã từng là vùng đất thiêng của hai vương triều3.
      Ngôn ngữ của HKB giản dị, trong sáng, dùng nhiều từ địa phương mộc mạc, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, pha trộn với nhiều từ ngữ và hình ảnh cổ điển của Đường thi khiến văn ông vừa gần gũi dễ đọc vừa có chút chiêm nghiệm, chất triết lý nhân sinh nhẹ nhàng khiến ta phải suy nghĩ. Điều này cũng không lạ, nếu biết ông đã qua tuổi thất thập. Những vầng dương, nhật nguyệt, bóng hạc, tà dương, hưng phế... trở đi trở lại nhiều lần... tạo không khí hoài cổ của người có tuổi thường ngoái lại đằng sau hơn là nhìn về phía trước.
      Hãy nhìn qua mắt ông: “Không còn những ngọn khói lam chiều toả lên từ những mái tranh, không còn những ngả ba sông mênh mông bát ngát với những đò chiều tấp nập vì dòng sông mỗi ngày mỗi cạn..” (Kỷ niệm chiều). Hay cảm theo ông giữa lúc hai màu vàng đen của bầu trời sắp hoà nhập, trộn lẫn vào nhau khi chiều muộn:
      “Chiều sẫm tối, có chàng trai trẻ bách bộ trên đường phố, hồn trí bâng khuâng với cảnh trời chiều, bỗng nghe một làn hương sực nức từ  đâu đưa lại: mùi dạ hương sớm toả...”(Chiều)
      Câu chữ giản dị nhưng không kém phần bóng bẩy. Bằng những con chữ đơn giản nhưng ông diễn tả được những điều tinh tế có sức lay động lòng người.
      Trong hai quyển sách có không ít những đoạn làm người đọc lâng lâng: “Người đứng trên cầu Phụ Ngọc nhìn ra xung quanh thấy mặt trời đang lặn trên ngã ba sông; những hôm có ráng chiều màu nước sông Côn nhuộm màu ráng đỏ, rồi cái màu ráng đỏ cùng sông mà trôi đi biền biệt...” 
      “Mỗi sáng sớm, chủ nhà thức dậy, đun ấm nước rồi ra trước hiên lai, hái vài hoa hồng tường vi nở trong đêm. Cho trà búp Đài Loan, cho hoa vào bình, rót nước sôi vào hãm giây lát là có được một bình trà ngon hảo hạng. Bưng kỷ trà toả hương đặt trên chõng, ngồi ngó ra sân còn đặc sương mai, uống trà với tâm thế người chào đón buổi bình minh.”(Chõng tre)
      Thế  nhưng những trang văn của ông không chỉ có  cái nhìn hoài cổ. Có lúc ông cũng dí dỏm, đang nói về chuyện “nhập tâm mắm” rồi bỗng ví von, khen con gái có cái “duyên mặn mà.” Cái  vị mặn của mắm tương hoà  với  nét đẹp mặn mà của cô gái quê  chân chất, hiền hoà, sống rất thực, trọn đời hy sinh vì chồng con, gắn đời mình vào cuộc hôn nhân bền bĩ, thách đố thời gian. Ông quan sát tinh tế đến từng chân tơ kẽ tóc về những điều thường hằng hiện ra trước mắt mà với ta không lưu giữ chút gì trong trí nhớ. Hãy nghe ông tả cô gái bán  bánh mì trên đường Tăng Bạt Hổ, Qui Nhơn: “Tay cô con gái thon búp măng, đeo nhẫn, cầm con dao Thái Lan thái chả, thái thịt thái rau, rồi cũng bàn tay ấy rạch ổ bánh mì, kẹp thịt chả, kẹp dưa leo, cọng hành ngò xanh, lát ớt cay màu đỏ tươi, xịt nước tương vào ổ bánh, rồi đặt ổ bánh vào tờ giấy, cuộn lại, trao bằng hai tay hai mắt cho người khách đang vui vẻ đợi. Tất cả các động tác của cô bán hàng đều rất thành thạo, rất lịch sự, nhịp nhàng, khiến tôi nghĩ đến điều: cô ta đang làm theo một điệu nhạc rất du dương trong lòng mình”.(Ổ bánh mì nóng giòn).
      Chao ôi! Phải có một tấm lòng yêu thương cuộc sống và  con người biết bao mới khiến ông có thể  trải lên giấy những trang văn đẹp đẽ và thiết tha đến thế về con người, về những công việc hết sức bình thường . 
      Trên những trang sách của HKB người ta còn bắt gặp mùi và  vị quê hương. Kinh nghiệm khứu giác thật mạnh khiến người đọc có cảm giác như đang cùng ông cắn chiếc bánh, rồi hồi ức và tình cảm được gợi lại giúp ta “đi tìm thời gian đánh mất” như Marcel Proust       “nhìn thấy” bầu trời thơ ấu của mình. Ta gặp đủ thứ, từ vị thiền trà trong sương sớm, vị mắm cua đồng đến mùi bùn đất, mùi mồ hôi của những bác nông phu, mùi hăng hăng rơm rạ đến mùi khói đốt đồng, mùi gió biển quanh năm tanh tanh mặn mặn.
      Người lưu giữ và qua từng ấy thời gian có thể dễ dàng truyền lại một cách tươi nguyên những mùi vị đó chắc hẳn phải là người có cảm xúc dạt dào và mang trong lòng một tình yêu quê hương nồng thắm.
      Có  lẽ vì thế mà sau khi đọc Nơi con sông Côn chảy qua, một bạn văn của tôi đã không đắn đo gọi HKB là một Sơn Nam của Bình Định?
      Cũng như bạn, đọc HKB, tôi có cảm giác là tình yêu quê hương Bình Định của ông, vác trên vai 70 năm qua, như một phần xương thịt của chính mình. Những vùng đất, những con người, tập tục, những màu sắc và mùi vị của những đồ vật sắp sửa biến đi... ông câm lặng nhìn, câm lặng nghe rồi đêm đêm, câm lặng chong đèn viết lên tiếng kêu luyến tiếc cho chính mình nghe. Tiếng kêu ấy bây giờ vọng lại, từ trang giấy chuyển tải đến chúng ta, đi tìm người đồng cảm.
      Tôi tin có rất nhiều người đồng cảm với ông dù  họ ở đâu trên thế giới này, miễn họ  là người Việt. Và tôi hẳn nhiên là một trong số ấy. 
      Người ta nói và đã nói rất nhiều về một thời vang bóng, nhắc đến những cuộc phế hưng qua thời gian, qua bao năm chiến tranh và giờ đây đau buồn nhìn thấy nền văn hoá đang tụt dốc. Thế nhưng đọc tản văn của HKB, tôi vẫn cảm thấy có cái gì khác, sâu thẳm hơn, tê tái hơn, ngậm ngùi hơn những gì tôi đã thường nghe, thường đọc. Có lẽ sự mộc mạc, ngôn ngữ không chút gì cầu kỳ, bí hiểm và đượm mối nhân tình ấy đã làm mới cảm xúc trong lòng chăng?
      Theo dòng sông Côn, những trang viết lặng lẽ của HKB đưa người đọc trở về chốn yên bình của một thời. Mấy mươi năm rồi, tôi còn nhớ như in hình bóng lão Thận ngồi câu quẹt ở gần bến sông… Bữa nào cá nhiều, ăn không hết, chiều xẩm ông đem ra bến sông thả xuống gọi là “phóng sanh”, để rồi sáng hôm sau lại ra bến sông câu lại từng con một trong cảnh chim trời cá nước. Tôi nhớ ông như nhớ một con người kỳ lạ, có lòng từ tâm, còn chuyện đi câu chẳng qua là vì miếng ăn của ông bị thiếu…” (Những con sông quê ơi!) 
      Một bạn văn khác của tôi, khi đọc hai tập tản văn, bút ký nhận định HKB là một nhà  văn chuyên về Bình Định học... Rất đúng, vì qua những trang văn ông đã lưu giữ cái hồn cốt tinh túy của tập tục, đời sống, con người và thiên nhiên của vùng đất quê mình. Nhưng tôi thấy một danh xưng như thế vô hình chung đã “khoanh vùng” văn hóa và không nói lên được tính khái quát về những trang viết của ông. Đúng là ông viết về Bình Định nhưng những hình ảnh mà ông vẽ lên, ghi lại... người đọc không khó khăn nhìn thấy rải rác trên khắp mọi miền đất nước.
      Vì  vậy, tôi thích gọi HKB là nhà văn Việt Nam, không chỉ viết riêng cho Bình Định; dù cả đời mình HKB ít có dịp đi xa, “nhích” đến những vùng đất lạ. Cả đời mình hầu như ông chỉ quanh quẩn “Nơi con sông Côn chảy qua”, hoàn cảnh cá nhân buộc ông phải thuỷ chung sống chết với vùng đất ấy; mà vùng đất ấy cũng chính là đất thiêng, đất của nghĩa khí Tây Sơn “áo vải cờ đào”… Ông yêu người dân “thàng hậu” quê ông tha thiết, tình yêu đó tan chảy vào máu thịt đến độ khả kiến mà bất kỳ ai, là con dân “Xứ Nẫu” hay không, đọc ông viết về những gì đã qua hơn nửa thế kỷ cũng đều dễ dàng nhận thấy phong cách và lòng yêu đó. 
     Đề tài trong hai tập sách của HKB thật đa dạng và phong phú. Tôi không biết là để chắt chiu nhặt nhạnh từng hình ảnh, từng chi tiết và kỷ niệm để tập hợp lại rồi “bắt nó nằm lại” trên những trang giấy… ông đã làm việc cần mẫn bao nhiêu năm nhưng tôi tin chắc là ông đã chẳng hoài công. Ông đã níu giữ được một thời. Bằng những rung động chân thành, cảm nhận sâu sắc và chắt lọc chi tiết, gọt dũa qua ngôn ngữ nghệ thuật theo cách của mình, ông đã để lại những trang văn gợi cảm, có sức lan toả và tạo những dư ba trong tâm hồn người đọc.
      Xã  hội hôm nay có quá nhiều sản phẩm, kể cả  văn chương, để người tiêu dùng ăn ngấu nghiến, ăn vô  tội vạ và rồi nhanh chóng vứt bỏ như  xóa “1 file” trong bộ nhớ. Những kẻ  háo danh chỉ muốn làm điều lập dị, cố  gây đình đám... để mau nổi tiếng, mấy ai bỏ thời gian để viết những điều chẳng mấy “thời thượng” này. Vì thế tôi nghĩ sự xuất hiện của những quyển sách quý, giúp ta lưu giữ những kỷ niệm và giá trị truyền thống, rất đáng nghiêng mình kính trọng.
     Vì  không ai hình dung được một xã hội sắp đến sẽ quái gỡ ra sao nếu chỉ toàn những người làm kinh tế lừa đảo, chộp giật, mánh mung hay những người cầm bút viết lên những trang văn vô cảm, nhạt nhẽo, không hề quan tâm đến người đọc. Hay chỉ quan tâm đến những tin lộ hoàng, khoe thân xác... để kích động lòng tham muốn thấp hèn. Khơi dậy bản năng xấu nhất. Để đánh thức phần CON, bóp chết phần người... 
     Nếu văn chương là tiếng nói của cảm xúc, là bày tỏ thái độ trước những vấn đề trong cuộc sống, là sự giải bày nội tâm để tìm kiếm những đồng cảm tri âm của người đọc... thì tôi nghĩ là HKB đã  thành công trong cuộc tìm kiếm đó.
      
                                          Trương Văn Dân 
                                                Bắt đầu viết tại Milano 12-2009
  •  
    •  
      •  
        •  
          •  
                          Và viết tiếp tại Sài Gòn 10-2011