.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu



Nội đi chùa


Nội đi lễ chùa
Đi cùng với tràng hạt
Gậy tre, tóc bạc…
Lòng con thương Nội:
Già còn có cửa chùa (1).

Nếp chùa in trên hình đất nước
Mọc trên trời sao Cày, sao Rua…
Mọc mặt đất những làng quê xanh lúa, xanh ngô
Nở trước ngõ mỗi nhà: bông trang, bông bụt…

Nội đi lễ chùa
Câu kinh Phật A Di Đà dịu mát
Hương ngọc lan thơm ngát
Theo Nội nẻo về…

(1) “Trẻ vui nhà già vui chùa” (Tục ngữ)




Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu



Thành phố của tôi:
Biển – Mặt trời và Ngày




Bộ ba nhịp điệu cuộc đời
Biển của những ngư dân ra lộng ra khơi
Những người đi tắm biển
Những người thích ngắm biển xanh…

Ngày của những công nhân khu công nghiệp
Những chị hàng rong
Những thanh niên uống cà phê quán vườn
Và chơi cờ tướng.

Mặt trời của những hồ sen
Những chùm bông giấy ngũ sắc
Những bóng chiều vàng vọt
Trên những tháp Chăm.

Biển – Mặt trời và Ngày
Bộ ba nhịp điệu mê say
Sáng nay những chùm bông giấy
Nở trong khu vườn nắng đầy.

Lập Hạ - 2011







Thơ Huỳnh Kim Bửu




Vẫn mỗi ngày


Vẫn mỗi ngày đi ra với biển
Chỉ thấy gió thổi xanh bờ
Vẫn hạt cát trôi bơ vơ
Không thấy đâu em: Biển mặn…

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Những cuốn sách và nông dân xưa
 

                                       

          Ngày xưa, cái học “thiên kinh vạn quyển”, chắc là cái học ở chốn kinh thành, ở nơi có các trường thi dành cho các sĩ tử “cướp cờ, cướp biển”, như ở quê tôi có trường thi Hương Bình Định. Chứ còn ở các vùng nông thôn thì cái học trường lớp hiếm hoi lắm, số người đi học ít mà sách cũng ít.

         Sách Tam thiên tự (tác giả Đoàn Trung Còn) dạy vỡ lòng chữ Nho. Trẻ con nông thôn học ông thầy đồ ở trong làng sách Tam thiên tự với những câu: “Thiên – trời, địa – đất, cử - cất, tồn – còn, tử - con, tôn – cháu”…Ai học hết sách thì có vốn 3000 từ làm “hành trang” buổi đầu đi học. Nhiều trẻ con học chưa hết sách đã phải nghỉ học, vì nhà nghèo, cần ở nhà giúp đỡ cha mẹ. Những trẻ này tới khi lớn lên thành anh trai làng, bác nông dân, nhờ chút học đó, mà không bị xấu hổ, vì: Không biết được chữ Nhất là một.
         Tam tự kinh (Sách ba chữ, do Vương Ứng Lân, Trung Quốc biên soạn) tập hợp những tinh hoa của Nho giáo. Ở trong các làng quê xưa, nhiều bác nông dân vừa mới rửa chân tay cho sạch bùn đất để đi ăn giỗ, nhưng đã ngồi vào cỗ là “nói chữ”, “xổ Nho”: từ “Nhân chi sơ Tánh bản thiện. Tính tương cận Tập tương viễn” (Người thuở đầu, tánh vốn lành. Tánh nhau gần, thói nhau xa.)…đến “Dưỡng bất giáo Phụ chi quá Giáo bất nghiêm Sư chi đọa”: (Sinh không dạy, lỗi ở cha. Dạy không nghiêm, lỗi tại thầy). Cảnh ngồi cỗ giỗ mà đối đáp, rượu vào lời ra thế cũng vui, thường khi làm được việc giáo hóa điều gì đó.  Từ “xổ Nho” (cũng nói xổ Nho chùm) cũng có ý thầm phục: Các vị có học đàng hoàng, có Hán rộng!
          Sách Minh tâm bảo giám (tác giả Trương Vĩnh Ký) được nông dân thích học, cứ bảo: “Đó là gương báu soi lòng”.  Nhiều câu trong sách Minh Tâm nghe nói hoài giống như ăn cơm bữa, và sớm nhập tâm, trở thành nếp sống, nếp nghĩ của mọi người: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác Thiện hữu thiện báo Ác hữu ác báo” (Chứa lành thì gặp lành, chứa ác gặp ác. Thiện có lành báo, ác có dữ báo). Rồi những câu khuyên dạy: “Phàm nhơn bá nghệ hảo tùy thân / đổ bác môn trung mạc khứ thân / năng sử anh hùng vi hạ tiện/ giải giao phú quý tác cơ bần”…(Hễ biết nghề nào cũng ấm thân. Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.  Anh hùng mắc phải ra hèn hạ. Phú quý lâm rồi lại khó khăn)… Rất phổ cập, đến thành bài học, thành “câu hát” mùi mẫn ở trong các làng quê.
           Trên là những sách “giáo khoa” nông dân ít nhiều có thời trẻ thơ được học với ông thầy đồ hoặc với cha, anh ở nhà.
          Tứ thư, Ngũ kinh là những sách dành cho nho sĩ. Những nho sinh, sĩ tử có mộng khoa danh thì cố “ôn nhuần kinh sử”. Còn đa số nông dân, nhờ cuộc sống làng quê có sự chung đụng giữa nho sĩ và nông dân mà kiến thức được chia sẻ cho nhau. Nông dân vẫn “nói chữ”: “Quân quân thần thần phụ phụ tử tử” (Vua -  tôi, cha – con, ai có bổn phận nấy - Luận ngữ ) mỗi khi muốn nhắc nhở cái bổn phận phải lo cho tròn, cái quan hệ, kỷ cương phải giữ. Ngoại tôi là nông dân, ông đã chọn một câu hay trong Kinh Thi: “Quan Quan Thư Cưu Tại Hà Chi Châu Yểu Điệu Thục Nữ Quân Tử Hảo Cầu” (Chim thư cưu kêu quan quan… trên cồn sông Hoàng Hà. Gặp người gái đẹp, quân tử phải lòng) mà đặt tên cho các người con của Ngoại. Ngoại có 16 người con trai gái, má tôi thứ 8 xinh đẹp, trúng tên Châu: Nguyễn Thị Minh Châu, cũng đẹp.

          Sau này, hết thời chữ Hán lâu đến ngàn năm bước sang thời chữ Quốc ngữ mới ra đời.
         Đại Nam quốc sử diễn ca (của Phạm Đình Toái) được dạy ở trường Tiểu học. Vẫn thường vang vọng trong xóm thôn tiếng ôn tập bài học của các học trò trường Huyện. Khi thì: “Hùng vương đô ở Châu Phong / Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang / Đặt tên là nước Văn Lang / Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền…”.  Khi thì: “Bà Trưng quê ở Châu Phong / Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên / Chị em nặng một lời nguyền…”.  
         Đến sách Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT – nhóm ông Trần Trọng Kim biên soạn), được những “nông dân” ấu thơ học với cả lòng hứng thú. Bài nào học cũng mau thuộc, mau nhớ. Bài Rắn đầu biếng học (của Lê Quý Đôn): “Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! / Rắn đầu biếng học quyết không tha / Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ / Nay thét, mai gầm rát cổ cha…” là một trong những bài trong sách được học một lần là nhớ cả đời. Người ta nói, có “tình nghĩa giáo khoa thư” để chỉ cho tình bạn, tình huynh đệ giữa những người cùng học chung cuốn sách đó. Chẳng bao lâu, những chú bé học trò ngày trước học QVGKT trở thành các bác nông dân thuộc sử nước nhà, biết cảm thụ, biết thế nào là một bài văn hay.
        Từ nhỏ tới lớn, ta vẫn nghe ông cha cứ dặn bảo “Học làm người”, bài học cần học cả đời. Và ai cũng biết cái phẩm chất bao trùm của làm người là hiếu thảo, cho nên những nhà chứa sách (tích thư) đều có cuốn Nhị thập tứ hiếu (tác giả Lý Văn Phức). Bác nông dân nhân khi nhàn rỗi, vẫn ngồi đó “giảng sách” Nhị thập tứ hiếu cho con cháu nghe mà cũng là dịp cho chính mình ôn lại: “Người tai mắt đứng trong trời đất / Ai là không cha mẹ sinh thành / Gương treo, đất nghĩa trời kinh / Ở sao cho xứng chút tình làm con…”…vẫn kể rành rẽ 24 gương hiếu cảm động trời đất được ghi trong sách cũng như được truyền khẩu trong dân gian. Trong xóm thôn, những nhân vật Tử Lộ, Mẫn Tử Khiên… hình như ai cũng biết.
         Bên cạnh cuốn Nhị thập tứ hiếu, trên giá sách của các gia đình, còn có quyển Gia huấn ca. Từ khi quan đại thần Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca, trong cả nước (Đại Việt hồi đó, nước Việt sau này), thì nhà nhà đọc, nhà nhà dạy Gia huấn ca. Người ta hứng hát, ngồi không với nhau hát: “Đặt quyển sách vắt tay nằm nghĩ / Hễ làm người dạy kỹ thì nên”. Người nông dân vẫn bảo “Dạy con từ thuở còn thơ…”. Thực là ông cha ta đã đề cao vai trò quan trọng bậc nhất của giáo dục.

         Tuy không thiên kinh vạn quyển như đã nói, nhưng bằng mấy cuốn sách đó, kết hợp với kinh nghiệm bản thân, nông dân đã nâng cao kiến thức, học được bao điều lợi ích. Không ai nghi ngờ chuyện nông dân thuộc Sử Việt, trong tâm thức nông dân có niềm tự hào lịch sử nước nhà có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung…Nông dân không cục mịch như người ta tưởng mà trái lại họ có một tâm hồn đa cảm, luôn tìm đến với văn chương – nghệ thuật. Người ta vẫn ham thích đọc tiểu thuyết chương hồi (Trung Quốc), văn biền ngẫu, truyện cười dân gian… bằng cách ai biết chữ thì đọc, ai không biết đọc biết viết thì nhờ con cháu đọc cho nghe. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn viết về phong tục, chuyện tình đôi lứa không thành; thơ Tiền chiến viết về đồng quê của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ… vẫn đem lại sự yêu thích cho các nông dân biết đọc biết viết. Nông dân ta chẳng những đọc sách, “giảng sách”, “nghe sách” mà còn là người sáng tác nữa. Ca dao, dân ca, hò vè …là sáng tác đầy hứng thú từ những tâm hồn yêu thương, trong trẻo của nông dân.

         Bây giờ xin hỏi, nhờ đâu mà những cuốn sách xưa phổ cập tới những người nông dân sống trong các làng quê hẻo lánh như vậy? Chắc là trong các nguyên nhân được nêu ra, có nguyên nhân tôi cho không thể thiếu: Đó là sách hay, sách đem lại cho người ta cái thú đọc sách.

        Ngày nay, có ai về nông thôn (giữa thời buổi nhiều sách báo, có tủ sách xã thôn), mà tìm một nông dân thuộc năm ba câu Kiều, vài đoạn Lục Vân Tiên, biết chuyện Nỏ thần An Dương vương, Thánh Dóng…để cùng nhau hào hứng “trà dư tửu hậu” thì thật khó quá. Cái “thú đọc sách” (Trước đèn xem truyện Tây Minh – Lục Vân Tiên), cái từ “nghe sách”, “giảng sách”, rất quen hồi xưa, nay cũng không còn trông thấy, nghe thấy nữa.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu

Ngõ phong lan
Mười năm người về, trồng phong lan
Ngõ thành ngõ Hoa Lan
Xóm thành xóm Hoa Lan
Khách qua đường dừng một phút:
“Hương lan… Ôi nhẹ nhàng! ”.

Thơ Huỳnh Kim Bửu

Những cô gái trên xe đạp đôi
Trên đại lộ hoa và khách sạn Thùy Vân
Đứng ngắm mặt trời mọc lên từ biển
Ông Mặt trời cũng vừa tắm biển
Nên trông thật khoan khoái thật vui.

Đại lộ hoa và khách sạn Thùy Vân khi chiều xuống
Những cô gái trên xe đạp đôi thong thả cùng chiều…
Bác xe thồ gặp đồng hương quên ngày muộn
Hỏi đủ chuyện quê, chuyện sông Lại lở, bồi...

Mỗi ngày ta gặp nhiều lắm Vũng Tàu:
Đêm vẫn sáng trên trời và liên hồi gió hú
Ngày ra phố đi dọc những bờ tường rào gạch cũ
Không nói gì với ta những chùm bông giấy đủ màu.  

Thành phố thật nhiều nụ cười khi gặp nhau
Mai dẫu xa, ta còn nhớ thật nhiều, thật lâu
Những xe đạp đôi chở chiều và những dáng nhỏ
Thong thả... Về đâu cũng thật Vũng Tàu.

(Viết ở Nhà sáng tác Vũng Tàu, một ngày đầu tháng 4 / 2011).


thica.net

Mạng thi ca Việt Nam

Thơ Mõ sừng

Mạng thi ca Việt Nam

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

chuột - người – chuột

          
          Chuột - người – chuột






          
          Chuột sinh ra đời liền bị nhiều kẻ thù: Mèo vồ, chó chụp, sa bẩy, trúng thuốc độc… Ngành Thú y bào chế thuốc chữa bệnh, thuốc bổ cho bò, heo, gà, vịt… Nhưng lại có lọ thuốc diệt chuột (xếp cùng một góc với lọ thuốc trừ sâu…). Chẳng biết, bởi duyên nợ gì mà chuyện chuột với người nhiều lắm? Nhất là với quan tham, cho nên, bài này xin tản mạn một chút về chuột.  

         Chuột là loài đục khoét, phá hại. Đục khoét, phá hại là chuyện thường ngày của chuột, khiến người nhiều khi không chịu nổi. Đó là chưa nói, nếu người không giỏi dự phòng, nó còn truyền bệnh dịch hạch rất đáng sợ nữa.
         Nhưng mà chuột cũng có lợi ích cho người ở mặt nào đó chứ?
        Y tế thế giới đã làm hàng loạt các xét nghiệm trên chuột (không có con vật nào thay được chuột mà tốt hơn) để tìm ra thuốc chữa bệnh, thường là những bệnh nan y của người. Nhờ đó, ngành y tế thế giới đã chữa khỏi, cứu sống hàng triệu con người. Nuôi chuột bạch cũng là cái thú chơi của không ít người. Nhiều thực khách đã dám chắc rằng, ăn thịt chuột xào lăn, quay, nướng vừa thơm vừa ngon, chẳng hề thua kém thịt gà.

        Đời “bất hạnh” của chuột sao giống với thân phận đáng thương của dân đen, một tầng lớp người dưới đáy xã hội.
        Nhà văn Mỹ, John Steinback, viết tiểu thuyết Của chuột và người, rất được nổi tiếng. Trong tiểu thuyết, chuột trở thành con vật gần như bạn của nhân dân lao động, những người nghèo khổ, cùng cực. Ai xem tranh Đông Hồ - Đám cưới chuột, cũng dễ nhận thấy một tố cáo rằng dân đen (chuột) cần làm gì (dẫu là một đám cưới thuộc chuyện bách niên), nếu không đem lễ vật (chim, cá…) đút lót cho quan trên (mèo) là không được phép, không yên đâu. Thường thì chuột đói, trốn tránh trong hang sâu, xó tối, bữa nào được ăn no, là nhờ gặp may (sa bồ nếp hoặc rớt chĩnh gạo). Bài học chuột gặp may đã khiến cho “người quan sát” Lý Tư biết chọn con đường cho sự nghiệp của mình: Bỏ sáu nước, đi theo nước Tần giàu mạnh nhất. Nhờ đó, ông lấy tài trí và khôn ngoan của mình giúp Tần, lập được công, làm tới chức Thừa tướng, hưởng vinh hoa, phú quý không ai bằng, và cũng để cho đời cái danh lạ lùng:“Chuột Lý Tư” (1).   
         Ở trong các làng quê, có những lúc vì chuột phá hại mùa màng ghê lắm, làng xã phải hô hào diệt chuột tận hang sâu, treo giải thưởng cho ai diệt được nhiều chuột. Nhưng ở một thời mà nạn tham nhũng trở thành “quốc nạn”, người ta cũng khéo mượn chuyện diệt chuột để hô hào diệt bọn quan tham đang làm cho nước yếu, dân khổ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu (thế kỷ XIX) viết “Thảo thử hịch” (bài Hịch dịch chuột) để hô hào diệt chuột: “Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành. Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục tặc”. Có như thế mới được cảnh: “Bốn phương đều ngợi cảnh thăng bình. Thiên hạ cùng vui câu án đỗ” Nhưng cũng nên được hiểu, vì một nỗi bức xúc, Cụ có ý mượn đó để hô hào trừ diệt bọn quan tham lại nhũng trong bộ máy cai trị của Tây và Nam triều.
         Tuy không hô hào diệt chuột, diệt trừ quan tham mạnh mẽ, quyết liệt như Nguyễn Đình Chiểu (đã từng ra tuyên ngôn Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà), dân gian vẫn thích kiếm chuyện chuột để đùa dai với giới quan lại chuyên nhũng nhiễu dân. Chuyện cũ kể rằng:
          Bữa nọ, quan ở công đường, vợ quan ở nhà và đã nhận một món quà hối lộ là một con chuột đúc bằng vàng, to bằng chuột thật, có người đem tới biếu. Quan về, vợ khoe việc nhận hối lộ, và cũng nói thiện chí của người đưa hối lộ, muốn tặng quà cho ấn tượng: Món quà biểu tượng tuổi Tý của quan. Quan mừng, nhưng liền đó nghĩ lại mà bực tức, trách vợ, sao không nói với người ta rằng ông tuổi Sửu, cho được quà cực to là con Trâu vàng. Chao ôi, lòng tham làm cho quan mê muội!
         Ngày kia, bầy chuột họp nhau để cùng bàn cách trừ mối họa là chú mèo hiểm ác, đặng bảo toàn nòi giống chuột. Cuộc họp nhiều ý kiến, nhưng có một ý kiến được mọi “người” khen hay: Phải đeo một cái lục lạc vào cổ lão mèo để mèo đi tới đâu cũng có tiếng lục lạc rung leng …keng…, báo động cho chuột chạy trốn. Nhưng ai kìa “cảm tử”, đi làm việc nguy hiểm, đem nạp mình vào miệng mèo hung ác? Chủ trì hỏi mãi mà cuộc họp cứ lặng thinh, không chuột nào dám đứng lên tình nguyện. Đó, cái hung (mà cũng là cái tội) của quan là đã làm cho lương dân phải khiếp sợ, phải chấp nhận hèn. Cũng từ đó mà có thành ngữ: “Hội đồng chuột”.
         Người ta có chuyện Nửa dơi nửa chuột để cảnh cáo người dân lương thiện đừng dễ bị mắc lừa bởi miệng lưỡi của hạng quan thiếu đức thương dân. Khi gặp cảnh thuận thì chúng làm chuột để trổ tài ma mãnh, tham gian, khi gặp cảnh nghịch thì làm dơi để thoát thân, biến hóa khôn lường. Người ta gọi chúng là bọn giảo hoạt, nửa dơi nửa chuột, bọn chim (dơi) - chuột, phải thông minh phát hiện ra chúng.
         Không biết bằng quan sát cách nào mà tác giả Hồ Huyền Quy đã viết nên áng cổ văn Truyện “Trinh thử” (Trinh thử: con chuột trinh tiết) để tán dương lòng trinh tiết (Trinh thử: con chuột trinh tiết) và chỉ trích thói dâm tà.           
         Không biết có bao nhiêu câu ca dao cảm hứng từ bạn chuột vẫn cất lên trong các xóm thôn? Trẻ con vẫn hát: “Con mèo, con chuột có lông / Cây tre có mắt, nồi đồng có quai”, chuột trong lời bài hát khá thân quen và an bình bên cạnh những con vật, đồ vật khác, chớ không có gì là bị hô hào truy đuổi, diệt trừ mối họa. Ông bà già vẫn thường kể: “Con mèo trèo lên cây cau / Hỏi thăm: Chú chuột đi đâu vắng nhà? / Chú chuột đi chợ đàng xa/ Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo… ”, như đã kể truyện thơ Lục Vân Tiên để mà cười cái hiểm sâu của mèo, thương cái trốn chui trốn nhủi mà vẫn không yên của chuột. Đó là một lẽ. Nhưng phải chăng còn một lẽ khác, kể để hóa giải hận thù giữa những người thù địch, không đội trời chung với nhau? Ai yêu ca dao lại không thuộc lòng câu này: “Chuột kêu chút chít trong rương / Anh đi cho khéo đụng giường, mẹ hay” để có thêm một mối thương cảm.

         Có ai giải thích giùm, tại sao các cô gái thường sợ chuột? Theo tôi, người đầu tiên gọi chuột “bằng ông” (Ông Tý) chắc là một người phụ nữ, vì chuột hay cắn phá quần áo thời trang của chị, quần áo của chồng con chị. Tôi nhớ má tôi, khi bà còn sống, tối nào đang làm hàng (để sáng ngày quảy ra chợ bán) mà nghe chuột xạ reo là bà mừng và bảo: “Sáng mai nhất định má mua may bán đắt, và sẽ mua về cho các con nhiều quà, vì đã có tiếng chuột xạ reo, báo trước tin vui”.
         Có ai xếp giùm tôi, con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin này thuộc dòng họ chuột nào: Chuột xạ hay chuột nhắt, chuột xù hay chuột cống, chuột nhà hay chuột đồng? Dù được xếp theo dòng họ chuột nào, con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin ngày nay là con chuột thân thương của con người trên khắp thế giới: nó mang lại thông tin cho con người, xích thế giới lại gần nhau. Hàng trăm triệu con người trên khắp thế giới vẫn hằng ngày lăn con chuột mà làm việc, làm công trình, sáng tác… làm niềm say mê, niềm vui, hạnh phúc cho mình.
      
 
(1) Lý Tư thời trẻ tuổi, nhờ hai lần gặp chuột (một lần gặp chuột ăn vụng ở xó nhà mình, trong cảnh vừa ăn vừa sợ bị vồ, đập mất mạng; lần khác thấy chuột ung dung ăn trong kho thóc to, không hề tỏ ra sợ gì hết) mà đi tới quyết định bỏ sáu nước để đi theo nước Tần giàu mạnh nhất, đặng làm con “chuột sa bồ nếp”.

      
  

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu




Ký ức



Ký ức chạm vào quê hương
Cánh cò bay la bay lả
Tuổi thơ những ngày óng ả:
Mẹ, cha… và bậc thềm nhà.

Ký ức chạm vào trang vở
Mực tím, ngòi bút lá tre
Thả giữa sân trường tiếng vụ
Ù… u… như tiếng của trưa.

Ký ức chạm vào tình cũ
Giá đừng úa thếp trầu xanh
Dẫu mấy trăng tròn, trăng khuyết
Cứ như chưa lặn nguyệt Rằm.

Ký ức chạm vào ngày tháng
Rêu phong cho đến câu hò
Mỗi ngày một lần hóa thạch
Những liễu xanh soi mặt hồ…

Nếu như không còn ký ức
Quả thị sẽ rớt về đâu
Trầu cau ai trồng mà mọc
“Ngày xưa” Nội gởi chỗ nào?