.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

THƯ MỜI

Tập san Văn Học Nghệ Thuật QUÁN VĂN
Trân trọng kính mời các cộng tác viên, bạn văn, thân hữu và đọc giả
Vui lòng đến tham dự buổi giao lưu thân mật.
Lúc 9 giờ sáng Chủ nhật 02/12/2012
Tại Nhà hàng Sông Trăng
233A, Bình Quới, P. 28, Q. Bình Thạnh
Hân hạnh được đón tiếp quí vị.
Thay mặt Ban Tổ Chức
Nguyên Minh

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

 NGƯỜI GÕ CỬA MÙA THU

truyện ngắn của Nguyễn Thanh Hiện


Tranh chưa đặt tên - Nguyễn Hoài Nam



viết tặng người đã cho ta một
khoảnh  trời văn chương thanh khiết
 


Vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về những tháng năm chưa kịp xưa cũ, em đã đến gõ cửa nhà ta. Ở làng Cù ta, vào những đêm thu buồn như thế, con giun con dế nơi bờ rào cũng muốn nói lên lời tâm sự. Mà đang có ai hát trên đồng làng. Như là bạn của ta. Thằng bạn nối khố của ta.


Hay lại đang vỡ vụn một vùng ký ức. Bi thương. Và lạc lõng. Từng ngày đi nhặt nhãnh  bi thương và lạc lõng. Em đã đến gõ cửa nhà ta đúng vào lúc đang vỡ vụn những ký ức bi thương. Cũng vào một đêm mùa thu, lũ dế gọi mùa khản  cổ nơi bờ rào, thằng bạn nối khố của ta đã hát về những thứ khác với niềm vui. Hát về những thứ ở phía bên kia tồn tại. Những thứ ở phía bên kia sự vĩnh hằng.

Hai Bài Kệ Của Không Lộ Thiền Sư


tác giả Phạm Thảo Nguyên

Thiền sư Không Lộ họ Dương, không rõ tên thực là gì quê ở làng Hải Thanh, Nam Định. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Theo truyền thuyết ngài giỏi pháp thuật, và có biệt tài về xây dựng. Các tác phẩm của sư để lại cho chúng ta là những chùa chiền xây cất tráng lệ kỳ vĩ, đánh dấu sự thành tựu về nghệ thuật kiến trúc đời Lý. Ta có thể kể những chùa cổ đẹp nhất nước, do sư xây dựng toàn bằng gỗ không một cái đinh, cả nghìn năm nay vẫn còn làm chúng ta ngưỡng mộ như:
Chùa Cổ Lễ cao ngất hoành tráng tại Nam Định và chùa Nghiêm Quang, sau đổi ra là Thần Quang, hay chùa Keo, tại Giao Thuỷ, Nam Định. Chùa Keo đã bị bão tàn phá năm 1611. Vào thế kỷ thứ 17 dân làng Keo di dân tới hai bờ sông Hồng, xây lên hai chùa, một với gác chuông đẹp lạ lùng ở làng Nghĩa Dũng, Vũ Thư, Thái Bình (tả ngạn sông), và một phó bản rất xinh xắn ở làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định (hữu ngạn). Hai chùa cùng được gọi là chùa Keo, được xây dựng theo cùng mẫu chùa chính gốc tại Giao Thuỷ.
Sư mất năm 1119, để lại cho chúng ta hai bài kệ bằng chữ Hán là Ngôn Hoài và Ngư Nhàn. Bài thứ nhất có rất nhiều bản dịch của nhiều vị túc nho từ xưa tới nay. Tôi thích nhất bản của thiền sư Nhất Hạnh, với lời bình: “Một thi hứng rất siêu thoát, ít thấy trong thi ca”. Tôi xin chép lại dưới đây bài kệ và bài thơ dịch Ngôn Hoài:


言 懷

tho-1
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
Bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh
Ký tên Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo
Sử Luận, Saigon, nxb Lá Bối 1973.
Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ
Vui thú tình quê quen sớm trưa
Có lúc trèo lên đầu chóp núi
Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.
Hoà thượng Thích Thanh Từ trong cuốn Thiền Sư Việt Nam giảng giải như sau: Câu chót nói lên cái phi thường của người đạt đạo ở núi rừng. Kêu dài một tiếng mà lạnh cả bầu trời. Ý ngài nói chỗ núi rừng vắng vẻ rất thích hợp với người tu, khi lên chóp núi tĩnh tu, đạo lực đầy đủ rồi thì làm kinh động cả trời đất, hay nói cách khác là cảm ứng cả trời đất

*

Bài kệ thứ hai Ngư Nhàn, không may mắn như bài trước, được rất ít người dịch, và bản dịch thường không nói lên được ý thiền ẩn trong đó. Có lẽ một phần vì bài chữ Hán quá cô đọng, nhiều chữ Việt Hán, dễ hiểu, dễ dịch. Nhưng đọc bài dịch xong, người đọc không thấy sâu hơn những dòng chữ đó. Vì thực sự, đây là một bài thơ viết theo “nghệ thuật sắp đặt”(!). Những nhóm chữ đặt bên cạnh nhau, không một chữ giải thích sự liên hệ. Người đọc ai cũng có thể hiểu theo ý riêng của mình.
Dưới đây chúng tôi mạo muội đưa ra một vài ý nghĩ về bài thơ và một bài dịch mới:

    Ngư Nhàn: 漁 閒

tho-2
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỳ trước vô nhân hoán
Quá ngọ, tỉnh lai, tuyết mãn thuyền.
Dịch nghĩa:

Ông chài nhàn

Vạn dậm sông trong, vạn dậm trời
Một làng dâu gai một làng khói
Ông chài mê ngủ, không có ai gọi ồn ào
Qua giờ ngọ, (qua buổi trưa), tỉnh dậy, tuyết đầy cả thuyền.
Trước hết, để tìm hiểu ý bài thơ này, ta hãy đọc mấy câu thơ sau của vua Trần Thái Tông, một thiền gia rất thâm sâu thuộc thế kỷ thứ 13, sau thiền sư Không Lộ gần hai thế kỷ, và bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh:
Thiên giang hữu thuỷ thiên giang nguyệt
Vạn lý vô vân vạn lý thiên

(Sông nào có nước, có trăng soi
Dậm trời nào mây vắng, dậm trời ấy xanh (màu da trời))
Áp dụng “công thức” này vào bài thơ Ngôn Hoài, nghĩa câu đầu là:
Bất cứ sông nào có nước trong thì có bóng trời mây in vào đó.
Đó chính là một chiêm nghiệm của câu “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” (Mặt đất của tâm nếu không bị ngăn che, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi đến ), của tổ Bách Trượng, rất nổi tiếng trong thiền môn..Thiền sư Vô Ngôn Thông đạt đạo nơi câu này.
Từ đây ta có thể tạm dịch nghĩa bài Ngư Nhàn:
Câu 1 : Sông trong, dài vạn dậm, có hình bóng vạn dậm trời in xuống.
Câu 2 : (Trái lại) Làng trồng dâu, trồng gai thì khói lan mờ che phủ hết cả làng.
Câu 3 : Làng quê im vắng, không tiếng người gọi, ông chài ngủ yên. (có vẻ như ông chài đã đổi sang nghề lái đò giúp người qua sông), “không người gọi” nghĩa là không có khách gọi đò.
Câu 4: Quá trưa, ông chợt tỉnh dậy, ngỡ ngàng thấy nắng chiếu chói loà như tuyết đầy thuyền.
Vậy rõ là không thể dùng bẩy chữ để dịch, để diễn giải đủ nghĩa cúa mỗi câu của bài kệ này, cho nên, tôi… chạy sang lục bát!!

Ông Chài Nhàn

Sông trong, vạn dậm sông trong
In nguyên vạn dậm trời lồng nước mây
Ruộng dâu, gai mọc xóm này
Mịt mù một xóm tràn đầy khói lam
Vắng im không tiếng người vang
Ông chài say giấc ngủ an lặng tờ
Ngọ qua, chợt tỉnh giấc trưa
Ơ kìa! trắng xoá tuyết mơ đầy thuyền.
Ông chài này là thiền sư, trước kia là ông chài sau đã đi tu, ông không đi câu cá nữa mà đang nằm ngủ (chờ khách gọi đò). Tâm ông thanh tịnh như sông trong, làm gì ông không thấy được “tuệ nhật tự chiếu” như tuyết trắng đầy thuyền?
(nguồn: dien dan)

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

Nguyễn Thanh Hiện
lửa. 



J.Dubuffet - Psycho - Sites

Theo lời người coi rừng thì chắc chắn mạch nước đầu nguồn của con suối là nằm ở bên dưới mặt đất của rừng núi ấy ( nhà nước đã xếp vùng núi rừng này vào loại núi rừng đầu nguồn là lời ông ta) Không được tận mắt nhìn thấy con nước đầu nguồn thì cứ bước đi trên đất mạch đầu nguồn cũng là vui lắm rồi. Tôi và nàng đã đồng ý với nhau như thế.


Nguyễn Thanh Hiện

cái cách chép về sông núi

Salvador Dali -
Four dreams of Paradise - Romantic
 



ta muốn chép về sông núi ở làng Cù
nên đã đến hỏi ông Hai
người được coi như cuốn bách khoa sống của làng
như muốn chép về sông núi làng ta thì chép những gì
ông Hai bách khoa liền chỉ vào  quãng không trước mặt
trời đất vốn hư không
khi thấy núi thấy sông là theo cái cách thấy của con người
cuốn bách khoa sống của làng nói xong thì nhìn ta như thể dò xem ta có đồng tình với cái cách nhìn ấy hay không 
ta nói làng ta có núi Trồi núi Sụt
mưa hay nắng cũng có vẻ trần trụi và buồn bã  như kẻ không nhà
ông Hai nói thì cứ chép về những kẻ không nhà
người ta ắt sẽ hiểu đấy là núi Trồi núi Sụt


Lời phân ưu
Hay tin cụ Ông FAUSTO PUCILLO qua đời tại MILANO – ITALIA sau thời gian bị bệnh nặng, xin gởi đến hai bạn: nhà văn, tiến sĩ ELENA PUCILLO TRUONG và nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN (con gái và con rể của cụ Ông đang sống ở Sài Gòn) lời chia buồn sâu xa và lời cầu nguyện Hương linh được về miền Tiên cảnh.
Thành kính,

TM. Gia đình, HUỲNH KIM BỬU  

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


ăn cháo lươn,
tản mạn nghề bắt lươn




 Ở Quy Nhơn bây giờ, mọc dày những quán cháo lươn, miến lươn trên các đường phố. Món này phục vụ ăn sáng cho mọi giới: dân sành ăn, dân “cựu” gốc rạ ra phố chưa quên hương vị đồng quê. Lại không như phở, bún, món cháo lươn bình dân (10. 000đ / bát ngon miệng, chưa có bánh tráng). 
Một sáng Chủ nhật, bạn đã vào một quán cháo lươn đang đông khách. Vì đông khách, cho nên chắc là quán ngon. Một bát cháo lươn đã được đặt ở trước mặt bạn. Nhìn, bạn đã thấy ngon: Bát cháo vàng tươm, đậm đặc, váng trên mặt những sợi thịt lươn (lớn bằng sợi phở hoặc gấp đôi sợi phở tươi), mùi thơm lựng từ bát cháo bốc lên mũi bạn … Xung quanh bát cháo đặt thẩu con bột nghệ dẻo, thẩu con riềng xắt lát, đĩa con nước mắm trong - nổi mấy lát ớt chín đỏ - một đĩa con nữa đựng những lát chanh tươi… Bạn hãy nêm thêm các thứ đó, rồi trộn đều bát cháo mới ăn. Chủ quán vừa đặt thêm vào bàn đĩa bánh tráng bẻ làm tư cho gọn. Không ăn vội, ăn tới đâu, bạn bẻ bánh tráng giòn giòn thơm thơm tới đó. Bạn hãy nhìn xem, thực khách xung quanh bạn cũng ăn như thế. Họ ăn chăm chỉ, vì cái ngon đang thu hút đầu óc họ. Chắc là bạn cũng như họ, nhưng có thể bạn còn nghe thêm một chút xa xăm: Hương vị đậm đà, khá quen thuộc của bát cháo lươn ngày xưa mẹ vẫn nấu cho mình ăn?
  
Trong đồng ruộng, mương lạch ngày trước đây, con lươn có nhiều lắm. Nhưng nay ít rồi, vì lươn chịu chung số phận với con cua, con cá ngoài đồng: Không sống nổi với thuốc trừ sâu, phân hóa học của các bác nông dân cầu miếng cơm ăn mà quên con cá, con lươn – mấy đời vẫn có mặt trong mâm cơm của mình. Ngày nay, người ta bắt lươn ở các đầm, vũng lớn hoặc đào hồ trong vườn nhà mà nuôi, cho ăn thực phẩm.
Lươn mình trơn, thân to bằng cuốn lá đu đủ, thon đều, dài bốn – năm tấc, đầu chai cứng, giỏi dụi bùn, chuyên đào đất làm (hang) ở: “Thân lươn bao quản lấm đầu” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Cái trúm là dụng cụ lợi hại nhất đối với con lươn. Có hai loại trúm: Trúm nan tre và trúm ống tre. Trúm đan nan tre hình quả chùy (ta thấy trong sân thể thao) đầu bầu trúm có toi, đầu thon là miệng trúm, có nắp đậy. Trúm ống tre là một đoạn thân tre già 2 mắt. Một đầu làm miệng trúm, lấy mắt làm nắp đậy, đục bỏ mắt giữa cho thông nhau; đầu còn lại bỏ mắt, lắp toi. Loại dụng cụ trúm nào cũng có hai thanh tre dài, chắc chắn đâm xuyên qua trúm, để vừa giữ cố định cho toi trúm, miệng trúm, lại cũng để khi đi dắt trúm, hai thanh tre ghim chặt trúm vào bờ ruộng, bờ mương. Trong lòng trúm, đựng mồi. Mồi là những xác trùn, xác cua đồng ủ ươn, tanh. Sau khi đã chuẩn bị cho “cuộc” đánh trúm xong (đủ mồi nhử, kiểm tra lại thân trúm, miệng trúm, toi trúm) dân đánh trúm đợi chiều xẩm đến, “làm gánh”, gánh trúm đi ra đồng. Họ thường đi từng đoàn 4 – 5 người. Khi đi trên đường làng, ngõ xóm, người gánh trúm vừa đi vừa thả mùi tanh lại nơi cuối ngọn gió, khiến người ta quở, bịt mũi. Những nơi họ gánh trúm đến là đồng, vũng, mương lạch, những nơi có độ bùn dày, lùng lác rậm rạp cho trúm ở và dễ kiếm con mồi ăn. Thường mỗi bữa dắt trúm xong, đêm hết canh một, họ kéo nhau về, kể chuyện gặp ma đuốc, ma cà rồng cho vợ con nghe, vui. Rồi đi ngủ, cho kịp sáng hôm sau thức dậy sớm, đi giở trúm. Bữa gặp hên, trúm nào cũng giở lên nặng trịch, lươn vắt cục trong bụng trúm; trái lại, không ít bữa “đói”, đi có về không.

Sau đánh trúm, đến câu lươn. Câu lươn là cách làm ăn tùy hứng, không “nghề” như đánh trúm. Đang trưa hè, trời nắng chang chang, anh nông dân trẻ muốn cải thiện bữa ăn, bèn vác cuốc ra vườn đào mấy con trùn, gói theo, rồi đội nón mê, cầm “cần” câu, đi câu lươn. Phải câu lươn vào giữa trưa, nắng gắt, vì đây là lúc lươn sợ nắng chui vào , tìm mát. Người giỏi, đi câu một buổi, thả câu mười mà, kiếm được mười con lươn lớn nhỏ. Dụng cụ câu lươn là lưỡi câu uốn khớp miệng lươn. Lưỡi câu được cột chặt với một đầu sợi dây gai xe săn, lớn bằng thân cây kim đan len, dài chừng 1 thước. Đầu kia sợi dây, cho tay cầm. Người câu lươn đi dọc bờ ruộng, tìm . Gặp chỗ miệng có sủi bọt (do lươn thở) dừng lại, thả câu. Ngồi với tư thế 1 chân bờ, 1 chân ruộng, tay xoăn xoăn sợi dây câu đã móc mồi (một khúc trùn) đằng lưỡi câu, để đưa dây câu vào sâu trong mà. Lươn nghe động và mùi tanh thì há miệng bập, nuốt ực cả mồi và lưỡi câu vào bụng. Bị đau, biết bị tấn công, lươn chui sâu vào “thủ thế”, gây nên sự trì níu với anh đi câu. Người câu lươn lập tức kéo sợi dây câu ra khỏi mà, giơ cao lên, thân lươn vặn lại như cái mũi khoan, cái lò xo, tòong teng dưới lưỡi câu. Anh ta lấy ba ngón tay giữa ngoéo chặt lươn, cho vào đụt. Trong trường hợp, nghi rằng lươn “ngủ”, không nghe thấy mồi đến miệng, anh lấy ngón tay bật bật nước, đánh thức lươn dậy mà ăn mồi.
Gặp con lươn “khôn” không chịu ăn mồi để khỏi mắc câu, người ta đào bờ ruộng ra mà bắt lươn trong mà. Lươn không thoát khỏi, nhưng bờ ruộng bị vỡ ra. Người câu lươn đào bờ ruộng nhà, không can; chứ đào bờ ruộng người khác, hãy coi chừng “ăn” cán cuốc của ông chủ ruộng đến bất thình lình.  
Mùa mưa lụt, nước tràn đồng, nhiều tay vác rổ xúc ra đồng xúc cua. Nhiều mẻ, kéo lên được cả cua, lẩn cá, lươn…
Bắt lươn không dễ, vì lươn khá mạnh và thân lươn trơn cực kỳ. Dân “thiện nghệ” bắt lươn bằng ba ngón tay: Giữa – trỏ - áp út. Phát hiện con lươn đang dụi bùn đó, người ta dùng bàn tay chộp lấy, rồi lập tức kẹp giữa thân nó bằng 3 ngón tay, dùng ngón giữa ngoéo chặt, khóa lại, làm cho thân lươn in hình bị gãy đôi: đầu lươn chóc lên cao chới với, đuôi lươn ngo ngoe, yếu ớt, như bị tê liệt hẳn, không còn nữa sức mạnh vốn có của nó. Lươn bây giờ chỉ còn chui vào đụt.

Bà nội trợ giỏi, chế biến được nhiều món lươn ngon: Cháo lươn, miến lươn, lươn um…Ở Bình Định, món lươn um dầu, hành, tiêu bắp chuối chát thái nhỏ, trái chuối chát xắt lát dày kèm lá ngổ, đỗ phộng hạt rang chín …Um cho tới khi mở nắp vung ra nghe thơm ngát, sực nức mũi, thế là được món ngon trong cỗ giỗ nhà giàu, bên cạnh món gà hầm, cá ám, vịt tiềm.
Thịt lươn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng, như vitamin A, B1, B6, sắt, natri, kali, calci. Sách Đông y mách: Ăn thịt lươn có tác dụng bồi bổ khí huyết, tiêu trừ phong thấp, có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng… Với đặc tính bồi dưỡng và sinh khí huyết, máu lươn có tác dụng giúp lưu thông máu huyết, tăng cường dương khí, khả năng tình dục…
Cùng “gia tộc” với lươn, có chình. Ai về Bình Định, ghé ra Phù Mỹ sẽ được thưởng thức thịt chình và được nghe nói nhiều về chình Trà Ổ. Đầm này có loại chình mun, các nơi khác không có. Thịt chình mun ngon, chế biến được nhiều món: Chình nướng lá chanh, chình hấp, cháo chình…Món nào cũng tuyệt ngon, khiến du khách ăn rồi, không khỏi hẹn ngày trở lại. Chình bông cũng ngon nổi tiếng, có nhiều ở vùng đầm, hồ Kẻ Thử - Phù Cát.

Ở làng An Định, có xóm mang tên: xóm “Câu lươn”. Đây là một xóm nghèo. Hỏi tại sao? Người ta trả lời, bởi lươn nhớt, đồng tiền kiếm được từ lươn cứ tuột khỏi tay, không giữ được. Đàn ông ngày xưa thường mặc quần lưng bầu lươn (lưng quần may bản chừng 1 tấc). Tại sao gọi cái lưng quần to bản 1 tấc đó là lưng bầu lươn? Có phải vì, các cụ xưa cất các thứ vào cái lưng quần đó? Tờ bạc, tờ giấy nợ, thư từ…trải dọc, xe tròn như thân lươn, đút vô đó, chắc ăn hơn đút vô túi sợ bị trồi đi mất. Các cụ mình chơi “tiện lợi” còn hơn cả người thời nay, không phải mỗi cái quần bà ba kia có một dây lưng rút mà chỉ có một dây lưng rút chung cho hết thảy các cái quần. Dây lưng rút đó là một sợi dây trân hay dây mây (không dây vải, vì sợ nó thấm mồ hôi, thấm nước mục sớm) cột quanh bụng. Khi mặc, kéo quần lên, vắt lưng bầu lươn vào sợi dây cột sẵn đó, thế là mặc xong quần, an toàn, không sợ sút quần; có hứng tới, mặc thêm áo, cầm dù là đủ “lệ bộ” đi thăm sui gia, dự đám tiệc, cứ được. Trong dân gian cũng có thành ngữ “Trật bầu lươn” để nói về việc làm ăn gặp rủi, mà thất bại, nghèo khó. Thảm thay cho những người lấy câu “Thân lươn bao quản lấm đầu” mà than thân trách phận, biện hộ cho cảnh ngộ không may của mình. Mấy hôm nay, bác nông dân nọ câu được chục con lươn đang rộng trong chậu, sáng nay chợt nhớ ngày giỗ người bà con đến, bèn làm cái đụt bẹ chuối xanh tươi bẻ gập lại, đựng lươn, mang đi ăn giỗ. 

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012


Tà áo lụa giữa những cánh sen
        Nguyên tác : Un lembo di seta tra i fori di loto
      Của Elena Pucillo Truong
            ( Bản dịch của Trương Văn Dân)



Không khí ngạt thở  bởi giao thông trong các thành phố lớn. Đó là  cảm giác đầu tiên khi ghé thăm một đô thị lớn dù là Á hay Âu, ngạt thở vì hơi nóng, bụi bặm, khí thải từ các phương tiện giao thông,  khó chịu vì tiếng ồn ào của xe cộ và tiếng còi xe. Tôi nhận ra là sống trong điều kiện ấy, dần dà người ta phát triển được khả năng thích ứng, giống như một sự cam phận.
Người ta làm quen và  chịu đựng tất cả mọi thứ, dù lúc ban đầu không thể nào chấp nhận, thế mà về  sau lại xem những vấn nạn đó như là điều hiển nhiên trong thế giới này. Nghĩa là tôi cũng quen dần với những tiếng ồn ào của xe cộ, với những phố xá đông người. Khi trở về Ý, ở một thị trấn nhỏ yên tĩnh hơn,  thật là vô lý, tôi lại thấy thiếu vắng đám đông người, thiếu vắng những tiếng động và mùi vị của Sài Gòn. Rồi khi trở lại Việt nam, những thứ mà tôi cảm thấy “nhớ” kia lại xuất hiện và hằng ngày vây bủa lấy tôi.
Ở Ý, bạn bè rất nhiều người tò mò hỏi tôi là Việt Nam như thế nào, một đất nước xa xôi, khác biệt về khí hậu, ngôn ngữ và tập quán. Thường thì tôi nói về đời sống vô cùng khác biệt trong các thành phố lớn như Hà nội hay Sài Gòn so với các thôn xóm nằm giữa ruộng đồng bát ngát, khuất sau những luỹ tre xanh và các hàng dừa cao. Tôi luôn nói thêm là tôi rất nhớ màu xanh của lúa, các màu sắc của đồng quê, đây đó nổi lên một ngôi mộ cổ hay hiện lên một mái chùa, những ngôi nhà tranh có đàn gà cục tác hay các ao hồ có đàn vịt bình yên bơi lội. Nhưng cũng có lúc tôi nói với các bạn về sự giao thông hỗn loạn, rất giống nhau giữa các thành phố lớn, như Napoli ở Ý thì chẳng khác Hà Nội là bao!
Ở Ý, hầu như suốt cuộc đời tôi luôn luôn là một cuộc chạy đua với thời gian. Đời sống hối hả, lúc nào cũng cuống cuồng: đi học, đi dạy, đi làm, tiếp xúc với mọi người trong cái nạn kẹt xe khốn khổ, nhiều khi ngồi bất lực một mình trong xe hơi, xung quanh được bao vây bởi những chiếc xe bất động khác. Chiếc đồng hồ trên tay tôi luôn được chỉnh nhanh hơn 15 phút để tránh việc đến nơi hẹn trễ. Luôn luôn “xung kích” , không bao giờ ngừng nghỉ.
Về sống ở  Việt nam có làm chậm tốc độ sống phần nào, nhất là thời gian đầu, nhưng sau này nhịp sống hối hả cũng bắt đầu xâm nhập ở nơi đây rồi!
Một buổi chiều, sau khi xong giờ dạy ở trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, vừa bước vào nhà  thì chồng tôi nhắc:
  • Ti nay mình còn phi đi gp các bn na đó!
Chỉ có một  ít thời gian để thay quần áo và chúng tôi đã ngồi lên xe máy. Sự giao thông thường lệ vào buổi chiều… rồi đây, chúng tôi sắp đến, rẽ qua một con hẻm nhỏ sau lưng Đài Truyền Hình thành phố và dừng lại trước một bảng hiệu có ánh đèn.
Tôi chẳng biết điều gì đang xảy ra: có một điều gì đó khác thường! Chỉ mới vừa lách qua một con hẻm mà tôi đã thấy như mình đã ở rất xa phố thị.
Ngồi trên căn gác có thành chắn làm bằng gỗ tre, những người bạn mời chúng tôi  đi lên. Chỉ khi ngồi xuống chiếc băng dài làm bằng gỗ màu nâu sậm tôi mới nhận biết là mình đang ở đâu: một trà quán; trên các bức tường có treo các bức thư pháp viết trên các nan tre, nội dung về thiền trà và Phật giáo. Khi nhìn bức tượng Phật thật lớn đang ngồi kiết già thiền định ở trước mặt lòng tôi bỗng cảm thấy bình yên.
Người bạn mời chúng tôi đến đây là nhà văn Nhật Chiêu, hiện đang giảng dạy văn học ở trường Đại Học KHXH và Nhân Văn, người rất nổi tiếng về những tác phẩm văn chương và các công trình nghiên cứu về văn học Nhật và Anh. Đó là một nhà văn uy tín có tài năng nhưng rất khiêm tốn. Có lẽ nhờ bản tính hiền hậu nên ông được bạn bè ái mộ và có nhiều sinh viên quý mến.
Từ nhiều năm Nhật Chiêu là người bạn rất chân tình của chúng tôi và tôi tin không phải là một sự tình cờ mà hôm nay chúng tôi gặp gỡ ở đây. Bằng sự minh triết và  ôn hoà, dường như ông muốn giới thiệu với tôi những điều tôi chưa biết.
Chính Nhật Chiêu đã giới thiệu tôi với bà Viên Trân bà chủ thiền trà, mà  mới đầu tôi tưởng là một nữ đạo sĩ.  Đó là một thiếu phụ có khuôn mặt dịu hiền, trong sáng và bình an. Bà mặc một chiếc áo dài bằng lụa mỏng có hai tà áo bay lất phất và thướt tha. Rất nhiều năm đã sống ở Việt Nam nhưng tôi không lúc nào không hâm mộ chiếc áo dài  truyền thống của đất nước này. Nhiều năm trước, lúc mới quen chồng tôi, khi đó là một chàng sinh viên mới sang Ý du học, anh đã kể cho tôi nghe rất nhiều điều: Nhiều lần lấy xe máy chạy ra cổng trường nữ trung học lúc tan trường để chờ các nữ sinh: Một biển người thướt tha trong chiếc áo dài tinh khôi, hai tà áo trắng cùng với mái tóc huyền tung bay theo gió. Một hình ảnh đến giờ vẫn còn làm tôi xúc động là khi nhìn thấy các  cô gái mặc áo dài trắng, thong thả dắt chiếc xe đạp trước cổng trường.
Chồng tôi rất thích nhìn phụ nữ  mặc áo dài. Anh nói  thoạt nhìn trông nó cũng tương tự như các loại trang phục của các đất nước Á châu khác, thế nhưng khi trời có gió hay người mặc nó chuyển động, hai tà áo ve vẩy phất phơ  làm bước đi của người đàn bà  thanh thoát và uyển chuyển.
Tôi cũng có chiếc  áo dài đầu tiên của mình khi về Việt Nam lần  đầu để tổ chức đám cưới vào năm 1985. Mấy năm sau, đi dự đám cưới của hai người bạn Ý ở Milano, tôi cũng thấy cô dâu mặc áo dài mà cô đã  rất thích và đặt may trong một chuyến du lịch ở Việt Nam. Đó là kiểu áo, mà như tôi đã nói, người phụ nữ nào có cơ hội mặc nó sẽ cảm thấy mình là một bà hoàng. Dù nó chỉ có một màu hay có được thêu những hoa văn  tuyệt đẹp hay không, nó vẫn luôn lịch sự và quyến rũ.
Và chiếc áo dài mà bà Viên Trân đang mặc cũng thế:  được may bằng lụa có pha những sợi tơ óng ánh, bà còn lịch sự quàng một chiếc khăn trên cổ, nút thắt hờ, làm nổi bật màu xanh da trời của tơ lụa. Giọng nói của bà nhẹ nhàng, ngọt ngào và thanh thoát như tiếng đàn tranh của một cô gái  mảnh mai đang gẩy cùng với một thầy dạy đàn tranh, nhà thơ Lê Mộng Thắng. Ông ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu đặt trên nền nhà với nhạc cụ của mình. 
Tôi ngồi quan sát các cử chỉ thành thạo và điệu nghệ của bà Viên Trân lúc pha trà. Mỗi loại trà được chọn lựa tuỳ theo khoảnh khắc thích hợp chứ  không phải tình cờ. 
Bà Viên Trân giải thích là bà đang chọn trà tẩm hương sen, rồi thông cảm với vẻ tò mò của khách, bà đưa cho tôi một búp sen có những cánh vừa hé mở, bên trong có một nhúm trà và đỉnh hoa được cột lại bằng một sợi vải. Bằng cách đó, sau một thời gian trà sẽ được tẩm hương sen và toả ra trong bình trà lúc được pha nước nóng. Trong lúc quan sát các cử chỉ thành thạo của bà từ lúc châm nước sôi vào bình trà, bỏ trà vào, châm thêm nước sôi rồi sau một lúc, đổ đi. Sau hai lần như vậy bà mới châm nước sôi vào bình trà, đậy nắp và đặt giữa những chiếc tách nhỏ đã chuẩn bị từ trước.
Căn phòng lúc này thoang thoảng hương sen. Không gian yên tĩnh và thanh thoát còn thú vị hơn từ những lời trò chuyện nhẹ nhàng, từ  tiếng cười đầy tính bạn bè  được đệm bằng tiếng nhạc êm dịu của hai chiếc đàn tranh. Cả thầy và trò cùng dạo nhạc và có một lúc, nhà thơ Lê Mộng Thắng còn cao hứng buông đàn để ngâm Kiều và mấy bài cổ thi, giọng ngâm ấm áp của ông được cô học trò điểm nhẹ bằng vài tiếng đàn tranh.
Trước khi uống trà, bà Viên Trân rót cho mỗi người một chén rượu nhỏ rất thơm. Bà nói đó là thứ rượu sen do mà bà tự làm, theo một công thức từ đời Trần, cách nay mấy thế kỷ. Tôi không quen uống rượu, nhưng vì tò mò và không muốn mất một chút gì trong giây phút đặc biệt nầy nên cầm lấy chén rượu nhỏ bà đưa. Hơi nóng của rượu lan khắp toàn thân lúc tôi nhấp những giọt cuối trên môi.
Chỉ sau khi mọi người uống cạn chén rượu sen bà Viên Trân mới bắt đầu chiết trà ra các tách nhỏ đang đặt thành vòng tròn trên mặt bàn. Tia nước từ vòi của ấm trà như đang vẽ một đường cong liên tục trong không gian, lên xuống nhịp nhàng từ tách đầu đến tách cuối. Bằng một động tác thật thuần thục, cổ tay thon mềm của bà chuyển động nhẹ đến nỗi như không thể nào nhận biết, bà chiết đầy trên tất cả các tách trà. Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: Chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số.
Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay. Tôi cảm nhận được tất cả những cảm giác của mình. Một niềm xúc động sâu xa, có mang theo hậu vị thơm ngon từ chén rượu sen vừa nhấp. Hơi nóng của trà lan khắp toàn thân, và đó là một điều gì rất lạ, tuy rất “vật lý”, bên ngoài mà hình như đã mang lại cho tôi một sự bình an ở bên trong. Đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người, có những người bạn quây quần bên nhau.
Biết bao điều tôi học  được trong tối ấy! Tôi nhớ là sau đó bà Viên Trân đã mang ra mấy chiếc bánh đậu xanh mà chúng tôi nhâm nhi lúc uống trà.
Tôi còn gặp những người bạn quý và bà Viên Trân vào những lần khác trong quán trà, chúng tôi đã trao đổi rất nhiều chuyện quanh ấm trà làm khép lại những cánh hoa sen và tách trà ngào ngạt hương thơm, thế nhưng lần nào tôi cũng đều sống lại và cảm nhận cái không khí thân tình và thanh thoát đó.
Sự hài hoà của  âm nhạc, của lời nói thân tình, sức nóng và mùi vị đặc biệt của rượu sen được đưa lên khi tiếp xúc với trà nóng, chiếc bánh đậu xanh, tiếng xào xạc và màu sắc quyến rũ của những tà áo dài, sự thanh thản của giây phút sống bên cạnh nhà văn Nhật Chiêu, bà Viên Trân cùng các người bạn khác như nhà thơ Lê Mộng Thắng, nhà báo Ngân Hoa... chính là lý do làm tôi rất yêu mến đất nước này. Dù đã nhiều năm sống ở đây nhưng với tôi, lúc nào tôi cũng cảm thấy là còn nhiều điều cần phải khám phá. Và kinh ngạc.
Elena Pucillo Truong
Saigon 7-2012

Nguồn: Trích chuyên mục Sống và Viết, tập san Quán Văn số 009, tháng 10-2012

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012


Thơ Huỳnh Kim Bửu


Ước gì làm ngọn gió say



Ta lại ngồi chơi với cỏ may
Ăn sung chấm muối nếm gừng cay
Tuổi thơ ta đó trâu với nghé
Nghé ngọ trâu ơi nhớ những ngày…

Ta lại tung tăng với trăng này
Vành vạnh tròn trăng mười sáu đây
Tuổi em mười sáu tròn trăng ấy
Tóc xỏa ngang vai cho gió bay…

 Ta ngủ bên trời gối gốc cây
Chuồn kim nhẹ đáp xuống chân mày
Trong mơ ta cả vườn trái chín
Thơm ngọt đôi mươi hồn chất đầy.

Ta ước mình làm ngọn gió say
Để được lang thang cùng kiếp mây bay
Ta cũng muốn đất trời thật rộng
Cho những tình xa trong mắt cay.


Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


KÝ ỨC THÀNH CỔ 
BÌNH ĐỊNH (bài 2)

                   


Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934 – 1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).


Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là chùa Bửu Long ở gần cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.
Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.
Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.
Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.

Thành có ba cửa còn để lại dấu tích:
-In đậm trong ký ức tôi là cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam). Dấu tích còn lại của cửa này (mãi với thời gian gần đây) là bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót, cho người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Trước mặt cửa Tiền là một bến sông hằng ngày vẫn còn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vang vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến Trường Thi không xa (trong làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử Triều Nguyễn, còn bến "My Lăng'' của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:
                 "Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                  Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
                  Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
                  Ông lái buồn để gió lén mơn râu". 

-Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định, cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết, ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược... khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.

            -Cửa Đông mở thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Nghe nói, ngày xưa cửa Đông chính là cửa để đón quan Công sứ, các quan ta về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Ngày xưa, đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo. Chợ Bình Định là chợ Khu Vực, chung cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…cho nên chợ được xây dựng với quy mô to lớn (cột lều bê tông – cốt thép, khung lều sắt tây, mái lợp ngói Phú Phong ) hàng hóa nhiều, không thiếu những mặt hàng nổi tiếng của Bình Định, như đồ cẩn xà cừ, đồ đồng thau, đồ thêu thùa, tơ lụa, đường cát... Và có cả trâu khỏe, bò sức, ngựa hay… bán ở Chợ Gia súc gần đó.
          -Cửa Bắc, theo các cụ cao niển kể, đây là cửa dành cho việc dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này đã lấp kín từ rất sớm, đâu sau thời đòi giảm sưu thuế (1908), có nhiều người bị hành hình.

           Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía Đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là hòn Ông, hòn Bà hùng vĩ, uy nghi; tương truyền hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ núi “hít”! Phía Tây, dòng sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Bảy Yển thường đổ nước ầm ào, bọt tung trắng xóa, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: thành Hoàng Đế, núi Bà, hòn Mò O (còn gọi là hòn Mù U) tháp Cánh Tiên, tháp Phốc Lốc, chùa Thập Tháp A Di Đà... Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:
               ''Ngó lên hòn núi Mù U
               Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
                Một ông xách chén đi đơm
                Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần''.
Người ta vẫn bảo, đó là câu ca dao tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước :
                    “Nước Tân An có bao giờ cạn
                   Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
                   Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
                   Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn''.

Má tôi thường đọc ''Vè ông Tiến sĩ'', tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè ''Đêm năm canh kèn thổi tò toe / Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện / Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển / Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu'' cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem, đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình.

             Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù. Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng họ đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm đấu tranh và  mơ ước.

          An Nhơn ngày nay là một thị xã có cơ cấu kinh tế công – nông – thương mại – dịch vụ hiện đại trên cơ sở “An Nhơn - đất trăm nghề” có truyền thống từ xưa giờ. Các thành phần kinh tế này đang hoạt động có hiệu quả. Thành cổ Bình Định được quy hoạch và xây dựng thành khu vực hành chánh của thị xã với nhiều khối nhà to đẹp, bề thế. Cửa Lầu (tên gọi sau khi người ta đã gỡ bỏ hai chữ Cửa Đông) là địa điểm thường tổ chức các sinh hoạt văn hóa – văn nghệ của Hội Văn học – Nghệ thuật và Trung tâm văn hóa thị xã.

(1) Theo Nước non Bình Định của Quách Tấn.