.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


ăn cháo lươn,
tản mạn nghề bắt lươn




 Ở Quy Nhơn bây giờ, mọc dày những quán cháo lươn, miến lươn trên các đường phố. Món này phục vụ ăn sáng cho mọi giới: dân sành ăn, dân “cựu” gốc rạ ra phố chưa quên hương vị đồng quê. Lại không như phở, bún, món cháo lươn bình dân (10. 000đ / bát ngon miệng, chưa có bánh tráng). 
Một sáng Chủ nhật, bạn đã vào một quán cháo lươn đang đông khách. Vì đông khách, cho nên chắc là quán ngon. Một bát cháo lươn đã được đặt ở trước mặt bạn. Nhìn, bạn đã thấy ngon: Bát cháo vàng tươm, đậm đặc, váng trên mặt những sợi thịt lươn (lớn bằng sợi phở hoặc gấp đôi sợi phở tươi), mùi thơm lựng từ bát cháo bốc lên mũi bạn … Xung quanh bát cháo đặt thẩu con bột nghệ dẻo, thẩu con riềng xắt lát, đĩa con nước mắm trong - nổi mấy lát ớt chín đỏ - một đĩa con nữa đựng những lát chanh tươi… Bạn hãy nêm thêm các thứ đó, rồi trộn đều bát cháo mới ăn. Chủ quán vừa đặt thêm vào bàn đĩa bánh tráng bẻ làm tư cho gọn. Không ăn vội, ăn tới đâu, bạn bẻ bánh tráng giòn giòn thơm thơm tới đó. Bạn hãy nhìn xem, thực khách xung quanh bạn cũng ăn như thế. Họ ăn chăm chỉ, vì cái ngon đang thu hút đầu óc họ. Chắc là bạn cũng như họ, nhưng có thể bạn còn nghe thêm một chút xa xăm: Hương vị đậm đà, khá quen thuộc của bát cháo lươn ngày xưa mẹ vẫn nấu cho mình ăn?
  
Trong đồng ruộng, mương lạch ngày trước đây, con lươn có nhiều lắm. Nhưng nay ít rồi, vì lươn chịu chung số phận với con cua, con cá ngoài đồng: Không sống nổi với thuốc trừ sâu, phân hóa học của các bác nông dân cầu miếng cơm ăn mà quên con cá, con lươn – mấy đời vẫn có mặt trong mâm cơm của mình. Ngày nay, người ta bắt lươn ở các đầm, vũng lớn hoặc đào hồ trong vườn nhà mà nuôi, cho ăn thực phẩm.
Lươn mình trơn, thân to bằng cuốn lá đu đủ, thon đều, dài bốn – năm tấc, đầu chai cứng, giỏi dụi bùn, chuyên đào đất làm (hang) ở: “Thân lươn bao quản lấm đầu” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Cái trúm là dụng cụ lợi hại nhất đối với con lươn. Có hai loại trúm: Trúm nan tre và trúm ống tre. Trúm đan nan tre hình quả chùy (ta thấy trong sân thể thao) đầu bầu trúm có toi, đầu thon là miệng trúm, có nắp đậy. Trúm ống tre là một đoạn thân tre già 2 mắt. Một đầu làm miệng trúm, lấy mắt làm nắp đậy, đục bỏ mắt giữa cho thông nhau; đầu còn lại bỏ mắt, lắp toi. Loại dụng cụ trúm nào cũng có hai thanh tre dài, chắc chắn đâm xuyên qua trúm, để vừa giữ cố định cho toi trúm, miệng trúm, lại cũng để khi đi dắt trúm, hai thanh tre ghim chặt trúm vào bờ ruộng, bờ mương. Trong lòng trúm, đựng mồi. Mồi là những xác trùn, xác cua đồng ủ ươn, tanh. Sau khi đã chuẩn bị cho “cuộc” đánh trúm xong (đủ mồi nhử, kiểm tra lại thân trúm, miệng trúm, toi trúm) dân đánh trúm đợi chiều xẩm đến, “làm gánh”, gánh trúm đi ra đồng. Họ thường đi từng đoàn 4 – 5 người. Khi đi trên đường làng, ngõ xóm, người gánh trúm vừa đi vừa thả mùi tanh lại nơi cuối ngọn gió, khiến người ta quở, bịt mũi. Những nơi họ gánh trúm đến là đồng, vũng, mương lạch, những nơi có độ bùn dày, lùng lác rậm rạp cho trúm ở và dễ kiếm con mồi ăn. Thường mỗi bữa dắt trúm xong, đêm hết canh một, họ kéo nhau về, kể chuyện gặp ma đuốc, ma cà rồng cho vợ con nghe, vui. Rồi đi ngủ, cho kịp sáng hôm sau thức dậy sớm, đi giở trúm. Bữa gặp hên, trúm nào cũng giở lên nặng trịch, lươn vắt cục trong bụng trúm; trái lại, không ít bữa “đói”, đi có về không.

Sau đánh trúm, đến câu lươn. Câu lươn là cách làm ăn tùy hứng, không “nghề” như đánh trúm. Đang trưa hè, trời nắng chang chang, anh nông dân trẻ muốn cải thiện bữa ăn, bèn vác cuốc ra vườn đào mấy con trùn, gói theo, rồi đội nón mê, cầm “cần” câu, đi câu lươn. Phải câu lươn vào giữa trưa, nắng gắt, vì đây là lúc lươn sợ nắng chui vào , tìm mát. Người giỏi, đi câu một buổi, thả câu mười mà, kiếm được mười con lươn lớn nhỏ. Dụng cụ câu lươn là lưỡi câu uốn khớp miệng lươn. Lưỡi câu được cột chặt với một đầu sợi dây gai xe săn, lớn bằng thân cây kim đan len, dài chừng 1 thước. Đầu kia sợi dây, cho tay cầm. Người câu lươn đi dọc bờ ruộng, tìm . Gặp chỗ miệng có sủi bọt (do lươn thở) dừng lại, thả câu. Ngồi với tư thế 1 chân bờ, 1 chân ruộng, tay xoăn xoăn sợi dây câu đã móc mồi (một khúc trùn) đằng lưỡi câu, để đưa dây câu vào sâu trong mà. Lươn nghe động và mùi tanh thì há miệng bập, nuốt ực cả mồi và lưỡi câu vào bụng. Bị đau, biết bị tấn công, lươn chui sâu vào “thủ thế”, gây nên sự trì níu với anh đi câu. Người câu lươn lập tức kéo sợi dây câu ra khỏi mà, giơ cao lên, thân lươn vặn lại như cái mũi khoan, cái lò xo, tòong teng dưới lưỡi câu. Anh ta lấy ba ngón tay giữa ngoéo chặt lươn, cho vào đụt. Trong trường hợp, nghi rằng lươn “ngủ”, không nghe thấy mồi đến miệng, anh lấy ngón tay bật bật nước, đánh thức lươn dậy mà ăn mồi.
Gặp con lươn “khôn” không chịu ăn mồi để khỏi mắc câu, người ta đào bờ ruộng ra mà bắt lươn trong mà. Lươn không thoát khỏi, nhưng bờ ruộng bị vỡ ra. Người câu lươn đào bờ ruộng nhà, không can; chứ đào bờ ruộng người khác, hãy coi chừng “ăn” cán cuốc của ông chủ ruộng đến bất thình lình.  
Mùa mưa lụt, nước tràn đồng, nhiều tay vác rổ xúc ra đồng xúc cua. Nhiều mẻ, kéo lên được cả cua, lẩn cá, lươn…
Bắt lươn không dễ, vì lươn khá mạnh và thân lươn trơn cực kỳ. Dân “thiện nghệ” bắt lươn bằng ba ngón tay: Giữa – trỏ - áp út. Phát hiện con lươn đang dụi bùn đó, người ta dùng bàn tay chộp lấy, rồi lập tức kẹp giữa thân nó bằng 3 ngón tay, dùng ngón giữa ngoéo chặt, khóa lại, làm cho thân lươn in hình bị gãy đôi: đầu lươn chóc lên cao chới với, đuôi lươn ngo ngoe, yếu ớt, như bị tê liệt hẳn, không còn nữa sức mạnh vốn có của nó. Lươn bây giờ chỉ còn chui vào đụt.

Bà nội trợ giỏi, chế biến được nhiều món lươn ngon: Cháo lươn, miến lươn, lươn um…Ở Bình Định, món lươn um dầu, hành, tiêu bắp chuối chát thái nhỏ, trái chuối chát xắt lát dày kèm lá ngổ, đỗ phộng hạt rang chín …Um cho tới khi mở nắp vung ra nghe thơm ngát, sực nức mũi, thế là được món ngon trong cỗ giỗ nhà giàu, bên cạnh món gà hầm, cá ám, vịt tiềm.
Thịt lươn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng, như vitamin A, B1, B6, sắt, natri, kali, calci. Sách Đông y mách: Ăn thịt lươn có tác dụng bồi bổ khí huyết, tiêu trừ phong thấp, có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng… Với đặc tính bồi dưỡng và sinh khí huyết, máu lươn có tác dụng giúp lưu thông máu huyết, tăng cường dương khí, khả năng tình dục…
Cùng “gia tộc” với lươn, có chình. Ai về Bình Định, ghé ra Phù Mỹ sẽ được thưởng thức thịt chình và được nghe nói nhiều về chình Trà Ổ. Đầm này có loại chình mun, các nơi khác không có. Thịt chình mun ngon, chế biến được nhiều món: Chình nướng lá chanh, chình hấp, cháo chình…Món nào cũng tuyệt ngon, khiến du khách ăn rồi, không khỏi hẹn ngày trở lại. Chình bông cũng ngon nổi tiếng, có nhiều ở vùng đầm, hồ Kẻ Thử - Phù Cát.

Ở làng An Định, có xóm mang tên: xóm “Câu lươn”. Đây là một xóm nghèo. Hỏi tại sao? Người ta trả lời, bởi lươn nhớt, đồng tiền kiếm được từ lươn cứ tuột khỏi tay, không giữ được. Đàn ông ngày xưa thường mặc quần lưng bầu lươn (lưng quần may bản chừng 1 tấc). Tại sao gọi cái lưng quần to bản 1 tấc đó là lưng bầu lươn? Có phải vì, các cụ xưa cất các thứ vào cái lưng quần đó? Tờ bạc, tờ giấy nợ, thư từ…trải dọc, xe tròn như thân lươn, đút vô đó, chắc ăn hơn đút vô túi sợ bị trồi đi mất. Các cụ mình chơi “tiện lợi” còn hơn cả người thời nay, không phải mỗi cái quần bà ba kia có một dây lưng rút mà chỉ có một dây lưng rút chung cho hết thảy các cái quần. Dây lưng rút đó là một sợi dây trân hay dây mây (không dây vải, vì sợ nó thấm mồ hôi, thấm nước mục sớm) cột quanh bụng. Khi mặc, kéo quần lên, vắt lưng bầu lươn vào sợi dây cột sẵn đó, thế là mặc xong quần, an toàn, không sợ sút quần; có hứng tới, mặc thêm áo, cầm dù là đủ “lệ bộ” đi thăm sui gia, dự đám tiệc, cứ được. Trong dân gian cũng có thành ngữ “Trật bầu lươn” để nói về việc làm ăn gặp rủi, mà thất bại, nghèo khó. Thảm thay cho những người lấy câu “Thân lươn bao quản lấm đầu” mà than thân trách phận, biện hộ cho cảnh ngộ không may của mình. Mấy hôm nay, bác nông dân nọ câu được chục con lươn đang rộng trong chậu, sáng nay chợt nhớ ngày giỗ người bà con đến, bèn làm cái đụt bẹ chuối xanh tươi bẻ gập lại, đựng lươn, mang đi ăn giỗ. 

Chủ Nhật, 18 tháng 11, 2012


Tà áo lụa giữa những cánh sen
        Nguyên tác : Un lembo di seta tra i fori di loto
      Của Elena Pucillo Truong
            ( Bản dịch của Trương Văn Dân)



Không khí ngạt thở  bởi giao thông trong các thành phố lớn. Đó là  cảm giác đầu tiên khi ghé thăm một đô thị lớn dù là Á hay Âu, ngạt thở vì hơi nóng, bụi bặm, khí thải từ các phương tiện giao thông,  khó chịu vì tiếng ồn ào của xe cộ và tiếng còi xe. Tôi nhận ra là sống trong điều kiện ấy, dần dà người ta phát triển được khả năng thích ứng, giống như một sự cam phận.
Người ta làm quen và  chịu đựng tất cả mọi thứ, dù lúc ban đầu không thể nào chấp nhận, thế mà về  sau lại xem những vấn nạn đó như là điều hiển nhiên trong thế giới này. Nghĩa là tôi cũng quen dần với những tiếng ồn ào của xe cộ, với những phố xá đông người. Khi trở về Ý, ở một thị trấn nhỏ yên tĩnh hơn,  thật là vô lý, tôi lại thấy thiếu vắng đám đông người, thiếu vắng những tiếng động và mùi vị của Sài Gòn. Rồi khi trở lại Việt nam, những thứ mà tôi cảm thấy “nhớ” kia lại xuất hiện và hằng ngày vây bủa lấy tôi.
Ở Ý, bạn bè rất nhiều người tò mò hỏi tôi là Việt Nam như thế nào, một đất nước xa xôi, khác biệt về khí hậu, ngôn ngữ và tập quán. Thường thì tôi nói về đời sống vô cùng khác biệt trong các thành phố lớn như Hà nội hay Sài Gòn so với các thôn xóm nằm giữa ruộng đồng bát ngát, khuất sau những luỹ tre xanh và các hàng dừa cao. Tôi luôn nói thêm là tôi rất nhớ màu xanh của lúa, các màu sắc của đồng quê, đây đó nổi lên một ngôi mộ cổ hay hiện lên một mái chùa, những ngôi nhà tranh có đàn gà cục tác hay các ao hồ có đàn vịt bình yên bơi lội. Nhưng cũng có lúc tôi nói với các bạn về sự giao thông hỗn loạn, rất giống nhau giữa các thành phố lớn, như Napoli ở Ý thì chẳng khác Hà Nội là bao!
Ở Ý, hầu như suốt cuộc đời tôi luôn luôn là một cuộc chạy đua với thời gian. Đời sống hối hả, lúc nào cũng cuống cuồng: đi học, đi dạy, đi làm, tiếp xúc với mọi người trong cái nạn kẹt xe khốn khổ, nhiều khi ngồi bất lực một mình trong xe hơi, xung quanh được bao vây bởi những chiếc xe bất động khác. Chiếc đồng hồ trên tay tôi luôn được chỉnh nhanh hơn 15 phút để tránh việc đến nơi hẹn trễ. Luôn luôn “xung kích” , không bao giờ ngừng nghỉ.
Về sống ở  Việt nam có làm chậm tốc độ sống phần nào, nhất là thời gian đầu, nhưng sau này nhịp sống hối hả cũng bắt đầu xâm nhập ở nơi đây rồi!
Một buổi chiều, sau khi xong giờ dạy ở trường đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, vừa bước vào nhà  thì chồng tôi nhắc:
  • Ti nay mình còn phi đi gp các bn na đó!
Chỉ có một  ít thời gian để thay quần áo và chúng tôi đã ngồi lên xe máy. Sự giao thông thường lệ vào buổi chiều… rồi đây, chúng tôi sắp đến, rẽ qua một con hẻm nhỏ sau lưng Đài Truyền Hình thành phố và dừng lại trước một bảng hiệu có ánh đèn.
Tôi chẳng biết điều gì đang xảy ra: có một điều gì đó khác thường! Chỉ mới vừa lách qua một con hẻm mà tôi đã thấy như mình đã ở rất xa phố thị.
Ngồi trên căn gác có thành chắn làm bằng gỗ tre, những người bạn mời chúng tôi  đi lên. Chỉ khi ngồi xuống chiếc băng dài làm bằng gỗ màu nâu sậm tôi mới nhận biết là mình đang ở đâu: một trà quán; trên các bức tường có treo các bức thư pháp viết trên các nan tre, nội dung về thiền trà và Phật giáo. Khi nhìn bức tượng Phật thật lớn đang ngồi kiết già thiền định ở trước mặt lòng tôi bỗng cảm thấy bình yên.
Người bạn mời chúng tôi đến đây là nhà văn Nhật Chiêu, hiện đang giảng dạy văn học ở trường Đại Học KHXH và Nhân Văn, người rất nổi tiếng về những tác phẩm văn chương và các công trình nghiên cứu về văn học Nhật và Anh. Đó là một nhà văn uy tín có tài năng nhưng rất khiêm tốn. Có lẽ nhờ bản tính hiền hậu nên ông được bạn bè ái mộ và có nhiều sinh viên quý mến.
Từ nhiều năm Nhật Chiêu là người bạn rất chân tình của chúng tôi và tôi tin không phải là một sự tình cờ mà hôm nay chúng tôi gặp gỡ ở đây. Bằng sự minh triết và  ôn hoà, dường như ông muốn giới thiệu với tôi những điều tôi chưa biết.
Chính Nhật Chiêu đã giới thiệu tôi với bà Viên Trân bà chủ thiền trà, mà  mới đầu tôi tưởng là một nữ đạo sĩ.  Đó là một thiếu phụ có khuôn mặt dịu hiền, trong sáng và bình an. Bà mặc một chiếc áo dài bằng lụa mỏng có hai tà áo bay lất phất và thướt tha. Rất nhiều năm đã sống ở Việt Nam nhưng tôi không lúc nào không hâm mộ chiếc áo dài  truyền thống của đất nước này. Nhiều năm trước, lúc mới quen chồng tôi, khi đó là một chàng sinh viên mới sang Ý du học, anh đã kể cho tôi nghe rất nhiều điều: Nhiều lần lấy xe máy chạy ra cổng trường nữ trung học lúc tan trường để chờ các nữ sinh: Một biển người thướt tha trong chiếc áo dài tinh khôi, hai tà áo trắng cùng với mái tóc huyền tung bay theo gió. Một hình ảnh đến giờ vẫn còn làm tôi xúc động là khi nhìn thấy các  cô gái mặc áo dài trắng, thong thả dắt chiếc xe đạp trước cổng trường.
Chồng tôi rất thích nhìn phụ nữ  mặc áo dài. Anh nói  thoạt nhìn trông nó cũng tương tự như các loại trang phục của các đất nước Á châu khác, thế nhưng khi trời có gió hay người mặc nó chuyển động, hai tà áo ve vẩy phất phơ  làm bước đi của người đàn bà  thanh thoát và uyển chuyển.
Tôi cũng có chiếc  áo dài đầu tiên của mình khi về Việt Nam lần  đầu để tổ chức đám cưới vào năm 1985. Mấy năm sau, đi dự đám cưới của hai người bạn Ý ở Milano, tôi cũng thấy cô dâu mặc áo dài mà cô đã  rất thích và đặt may trong một chuyến du lịch ở Việt Nam. Đó là kiểu áo, mà như tôi đã nói, người phụ nữ nào có cơ hội mặc nó sẽ cảm thấy mình là một bà hoàng. Dù nó chỉ có một màu hay có được thêu những hoa văn  tuyệt đẹp hay không, nó vẫn luôn lịch sự và quyến rũ.
Và chiếc áo dài mà bà Viên Trân đang mặc cũng thế:  được may bằng lụa có pha những sợi tơ óng ánh, bà còn lịch sự quàng một chiếc khăn trên cổ, nút thắt hờ, làm nổi bật màu xanh da trời của tơ lụa. Giọng nói của bà nhẹ nhàng, ngọt ngào và thanh thoát như tiếng đàn tranh của một cô gái  mảnh mai đang gẩy cùng với một thầy dạy đàn tranh, nhà thơ Lê Mộng Thắng. Ông ngồi xếp bằng trên chiếc chiếu đặt trên nền nhà với nhạc cụ của mình. 
Tôi ngồi quan sát các cử chỉ thành thạo và điệu nghệ của bà Viên Trân lúc pha trà. Mỗi loại trà được chọn lựa tuỳ theo khoảnh khắc thích hợp chứ  không phải tình cờ. 
Bà Viên Trân giải thích là bà đang chọn trà tẩm hương sen, rồi thông cảm với vẻ tò mò của khách, bà đưa cho tôi một búp sen có những cánh vừa hé mở, bên trong có một nhúm trà và đỉnh hoa được cột lại bằng một sợi vải. Bằng cách đó, sau một thời gian trà sẽ được tẩm hương sen và toả ra trong bình trà lúc được pha nước nóng. Trong lúc quan sát các cử chỉ thành thạo của bà từ lúc châm nước sôi vào bình trà, bỏ trà vào, châm thêm nước sôi rồi sau một lúc, đổ đi. Sau hai lần như vậy bà mới châm nước sôi vào bình trà, đậy nắp và đặt giữa những chiếc tách nhỏ đã chuẩn bị từ trước.
Căn phòng lúc này thoang thoảng hương sen. Không gian yên tĩnh và thanh thoát còn thú vị hơn từ những lời trò chuyện nhẹ nhàng, từ  tiếng cười đầy tính bạn bè  được đệm bằng tiếng nhạc êm dịu của hai chiếc đàn tranh. Cả thầy và trò cùng dạo nhạc và có một lúc, nhà thơ Lê Mộng Thắng còn cao hứng buông đàn để ngâm Kiều và mấy bài cổ thi, giọng ngâm ấm áp của ông được cô học trò điểm nhẹ bằng vài tiếng đàn tranh.
Trước khi uống trà, bà Viên Trân rót cho mỗi người một chén rượu nhỏ rất thơm. Bà nói đó là thứ rượu sen do mà bà tự làm, theo một công thức từ đời Trần, cách nay mấy thế kỷ. Tôi không quen uống rượu, nhưng vì tò mò và không muốn mất một chút gì trong giây phút đặc biệt nầy nên cầm lấy chén rượu nhỏ bà đưa. Hơi nóng của rượu lan khắp toàn thân lúc tôi nhấp những giọt cuối trên môi.
Chỉ sau khi mọi người uống cạn chén rượu sen bà Viên Trân mới bắt đầu chiết trà ra các tách nhỏ đang đặt thành vòng tròn trên mặt bàn. Tia nước từ vòi của ấm trà như đang vẽ một đường cong liên tục trong không gian, lên xuống nhịp nhàng từ tách đầu đến tách cuối. Bằng một động tác thật thuần thục, cổ tay thon mềm của bà chuyển động nhẹ đến nỗi như không thể nào nhận biết, bà chiết đầy trên tất cả các tách trà. Tôi có cảm giác là thời gian đã ngưng lại trong khoảnh khắc đó: Chẳng quan trọng là mình đang ở đâu, đang làm gì, ở đây không có chỗ cho quá khứ với những muộn phiền mà cũng chẳng còn chỗ cho tương lai với bao ẩn số.
Không. Chỉ còn lại khoảnh khắc vô tận này, khi tôi ấp tách trà nóng ngào ngạt hương sen giữa hai lòng bàn tay. Tôi cảm nhận được tất cả những cảm giác của mình. Một niềm xúc động sâu xa, có mang theo hậu vị thơm ngon từ chén rượu sen vừa nhấp. Hơi nóng của trà lan khắp toàn thân, và đó là một điều gì rất lạ, tuy rất “vật lý”, bên ngoài mà hình như đã mang lại cho tôi một sự bình an ở bên trong. Đó chính là niềm vui khi nhận một món quà không mong đợi, một thứ hơi ấm của tình người, có những người bạn quây quần bên nhau.
Biết bao điều tôi học  được trong tối ấy! Tôi nhớ là sau đó bà Viên Trân đã mang ra mấy chiếc bánh đậu xanh mà chúng tôi nhâm nhi lúc uống trà.
Tôi còn gặp những người bạn quý và bà Viên Trân vào những lần khác trong quán trà, chúng tôi đã trao đổi rất nhiều chuyện quanh ấm trà làm khép lại những cánh hoa sen và tách trà ngào ngạt hương thơm, thế nhưng lần nào tôi cũng đều sống lại và cảm nhận cái không khí thân tình và thanh thoát đó.
Sự hài hoà của  âm nhạc, của lời nói thân tình, sức nóng và mùi vị đặc biệt của rượu sen được đưa lên khi tiếp xúc với trà nóng, chiếc bánh đậu xanh, tiếng xào xạc và màu sắc quyến rũ của những tà áo dài, sự thanh thản của giây phút sống bên cạnh nhà văn Nhật Chiêu, bà Viên Trân cùng các người bạn khác như nhà thơ Lê Mộng Thắng, nhà báo Ngân Hoa... chính là lý do làm tôi rất yêu mến đất nước này. Dù đã nhiều năm sống ở đây nhưng với tôi, lúc nào tôi cũng cảm thấy là còn nhiều điều cần phải khám phá. Và kinh ngạc.
Elena Pucillo Truong
Saigon 7-2012

Nguồn: Trích chuyên mục Sống và Viết, tập san Quán Văn số 009, tháng 10-2012

Thứ Sáu, 16 tháng 11, 2012


Thơ Huỳnh Kim Bửu


Ước gì làm ngọn gió say



Ta lại ngồi chơi với cỏ may
Ăn sung chấm muối nếm gừng cay
Tuổi thơ ta đó trâu với nghé
Nghé ngọ trâu ơi nhớ những ngày…

Ta lại tung tăng với trăng này
Vành vạnh tròn trăng mười sáu đây
Tuổi em mười sáu tròn trăng ấy
Tóc xỏa ngang vai cho gió bay…

 Ta ngủ bên trời gối gốc cây
Chuồn kim nhẹ đáp xuống chân mày
Trong mơ ta cả vườn trái chín
Thơm ngọt đôi mươi hồn chất đầy.

Ta ước mình làm ngọn gió say
Để được lang thang cùng kiếp mây bay
Ta cũng muốn đất trời thật rộng
Cho những tình xa trong mắt cay.


Thứ Ba, 6 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


KÝ ỨC THÀNH CỔ 
BÌNH ĐỊNH (bài 2)

                   


Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934 – 1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).


Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là chùa Bửu Long ở gần cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.
Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.
Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.
Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.

Thành có ba cửa còn để lại dấu tích:
-In đậm trong ký ức tôi là cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam – thành quay mặt hướng Nam). Dấu tích còn lại của cửa này (mãi với thời gian gần đây) là bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót, cho người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Trước mặt cửa Tiền là một bến sông hằng ngày vẫn còn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vang vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến Trường Thi không xa (trong làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử Triều Nguyễn, còn bến "My Lăng'' của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:
                 "Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                  Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
                  Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
                  Ông lái buồn để gió lén mơn râu". 

-Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định, cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết, ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược... khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.

            -Cửa Đông mở thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Nghe nói, ngày xưa cửa Đông chính là cửa để đón quan Công sứ, các quan ta về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Ngày xưa, đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo. Chợ Bình Định là chợ Khu Vực, chung cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…cho nên chợ được xây dựng với quy mô to lớn (cột lều bê tông – cốt thép, khung lều sắt tây, mái lợp ngói Phú Phong ) hàng hóa nhiều, không thiếu những mặt hàng nổi tiếng của Bình Định, như đồ cẩn xà cừ, đồ đồng thau, đồ thêu thùa, tơ lụa, đường cát... Và có cả trâu khỏe, bò sức, ngựa hay… bán ở Chợ Gia súc gần đó.
          -Cửa Bắc, theo các cụ cao niển kể, đây là cửa dành cho việc dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này đã lấp kín từ rất sớm, đâu sau thời đòi giảm sưu thuế (1908), có nhiều người bị hành hình.

           Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía Đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là hòn Ông, hòn Bà hùng vĩ, uy nghi; tương truyền hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ núi “hít”! Phía Tây, dòng sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Bảy Yển thường đổ nước ầm ào, bọt tung trắng xóa, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: thành Hoàng Đế, núi Bà, hòn Mò O (còn gọi là hòn Mù U) tháp Cánh Tiên, tháp Phốc Lốc, chùa Thập Tháp A Di Đà... Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:
               ''Ngó lên hòn núi Mù U
               Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
                Một ông xách chén đi đơm
                Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần''.
Người ta vẫn bảo, đó là câu ca dao tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước :
                    “Nước Tân An có bao giờ cạn
                   Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
                   Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
                   Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn''.

Má tôi thường đọc ''Vè ông Tiến sĩ'', tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè ''Đêm năm canh kèn thổi tò toe / Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện / Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển / Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu'' cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem, đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình.

             Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù. Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng họ đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm đấu tranh và  mơ ước.

          An Nhơn ngày nay là một thị xã có cơ cấu kinh tế công – nông – thương mại – dịch vụ hiện đại trên cơ sở “An Nhơn - đất trăm nghề” có truyền thống từ xưa giờ. Các thành phần kinh tế này đang hoạt động có hiệu quả. Thành cổ Bình Định được quy hoạch và xây dựng thành khu vực hành chánh của thị xã với nhiều khối nhà to đẹp, bề thế. Cửa Lầu (tên gọi sau khi người ta đã gỡ bỏ hai chữ Cửa Đông) là địa điểm thường tổ chức các sinh hoạt văn hóa – văn nghệ của Hội Văn học – Nghệ thuật và Trung tâm văn hóa thị xã.

(1) Theo Nước non Bình Định của Quách Tấn.


Huỳnh Kim Bửu



Về thăm trường cũ
Viên sỏi nhận ra mình
Ghế bàn làm mặt lạ
Thời gian cũng lặng thinh…

Về thăm trường cũ
Nhìn mây nhớ tóc thầy
Bạn bè giờ tứ xứ
Cơn mưa nhòa bóng cây.

Về thăm trường cũ
Lòng như là nôi đưa
Gió thổi xanh đến giờ
Câu ơn thầy nghĩa mẹ.

Đi suốt dãy hành lang xưa
Tìm bóng thầy nơi cửa lớp
Thấy mây bay lớp lớp
Trên vòm trời xanh lơ.

Thứ Tư, 24 tháng 10, 2012


Thơ Huỳnh Kim Bửu




Chiều thị trấn Phú Phong



Chiều thị trấn Phú Phong
Mặt trời đâu lặn sớm
Gió núi thổi qua đồng
Thơm mùi thơm dâu, mía

Chào chị gánh tơ vàng
Nhịp chiều theo chân bước
Đẹp sao các cô nàng
“Xùng xình” áo lụa mới (1)

Chiều thị trấn cao vọi
Trăng nước ngã ba sông
Bảo tàng Vua soi bóng
Dấu xưa còn oai hùng

Đi giữa lòng thị trấn
Chiều cứ trôi, cứ trôi…
Mục đồng về trên phố
Trâu cọ sừng tường vôi

Phú Phong ơi, Phú Phong
Ánh lửa chài năm cũ
Đồng Đá Đen (2) trăng phủ
Tiếng quân reo vọng về…

(1)  “Xùng xình áo lụa mới may
     Hôm qua thấy bận bữa nay mất rồi” (Ca dao Bình Định)
(2)  Cánh đồng nổi nhiều tảng đá đen,
tiếp giáp phía bờ tường rào Bắc Bảo tàng  Hoàng đế Quang Trung.

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012


Huỳnh Kim Bửu



Trăng lên mũi Tấn (1) là chiều
Bơ vơ xóm Đạo tàu tiêu gọi nồm
Sông trôi nên cát bồn chồn
Trăm năm rồi cũng nhập hồn cỏ lau.

Sang chơi dắt lưng túi trầu
Chuyện cùng hàng xóm bã trầu thêm tươi
Có chơi leo ngọn Dốc Trời
Hái sim chín đỏ hái Thu chín vàng.

Cậy chi áo mũ rỡ ràng
Gốc đa ông Táo võ vàng cái thân

Lên chùa đĩnh đạc chữ Tâm
Về nhà ngồi tựa trăng Rằm là vui.

----------------------------------------------------
(1)Một địa danh thuộc Quy Nhơn xưa.

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2012


04 October, 2012 15:11
Có 2 tuyến nội dung chạy dọc cuốn tiểu thuyết này, và có thể, tùy theo cái tạng của từng độc giả, tuyến nào sẽ có tác động mạnh mẽ hơn tới tâm trí họ. Tuyến thứ nhất, những lo lắng, ám ảnh về sự bất an của nhân loại trước hàng loạt những nguy cơ đã thấy và sẽ thấy trước cơn lốc hiện đại hóa, toàn cầu hóa. Tuyến thứ hai, câu chuyện tình vô cùng lãng mạn của Gấm và anh nhà báo.
Theo cảm nhận của cá nhân độc giả là tôi, có lẽ, người viết còn thiếu chút gì đó để tạo sự nhuần nhuyễn giữa hai vỉa mạch nội dung này. Nó khiến người đọc phải phân thân, phải tự tách bạch lý trí và tình cảm khi trải nghiệm từng trang sách. Những trang cuối của tiểu thuyết, khi người viết tập trung tinh thần và trí lực vào việc miêu tả cảm xúc và cái chết của cô Gấm, khi anh dường như quên đi mất cái mạch nội dung thứ nhất thì hình như trang văn có được vẻ thống nhất hơn.
Nhưng theo ý riêng tôi, rõ ràng, người viết không hề vụng dại trong kỹ thuật viết khi tạo dựng 2 vỉa mạch nội dung tưởng như hoàn toàn chẳng liên quan gì đến nhau trong cuốn sách này. Cái anh muốn “đánh động” tới tất cả độc giả chính là cái vỉa nội dung thứ nhất, nhưng cái anh muốn lắng lại trong lòng người đọc, lại chính là cái vỉa nội dung thứ 2. Cuộc sống rồi sẽ còn tiếp diễn khôn lường, nhân loại sẽ, dù muốn hay không, phải trải qua vô vàn những cuộc khủng hoảng và suy kiệt khác vì lòng tham lam, ích kỷ, nhưng tình yêu vẫn sẽ là điểm tựa duy nhất và cuối cùng của con người sau tất cả những biến cố, suy vi đó. Người viết dụng công miêu tả những khoảnh khắc thăng hoa, lãng mạn tới mức không tưởng trong mối tình thứ 3, và cũng là mối tình cuối cùng, của Gấm. Và anh cũng đã dụng không không ít trong việc khắc họa tới mức “nhìn thấy, sờ thấy” những nguy cơ khủng khiếp của nhân loại trong từng bước đi hôm nay. Người ta cần phải thoát ra ngoài để nhìn rõ hơn những thứ ở bên trong một không gian hạn hẹp. Với Trương Văn Dân, phải chăng, với quãng thời gian hơn 40 năm sống và làm việc tại Italia, nhưng vẫn không thôi dõi đôi mắt đau đáu yêu thương và trăn trở về tổ quốc, đã cho anh con mắt nhìn thật sâu, thật thấm thía về những nguy cơ có thật đã, đang và sẽ xảy ra trên đất nước mình. Những bãi rác công nghiệp độc hại đang ngày càng trở nên lộ liễu và bành trướng, nạn ô nhiễm môi trường, thực phẩm độc hại, những cuộc mua bán hôn nhân trần trụi, trơ tráo giữa người Việt và người nước ngoài, những cuộc hội nhập, toàn cầu núp danh các mỹ từ để một nhóm người có cơ hội thao túng từ kinh tế cho đến chính trị của một quốc gia, vùng lãnh thổ, và thậm chí là cả khu vực rộng lớn hơn thế. Ai dám bảo đó là những nỗi lo vô cớ? Ai dám bảo đó là chuyện của thiên hạ, là trách nhiệm của những người có vai vế trong xã hội, trong thế giới? Không, đó là những điều rất nhỏ đang tác động vào cuộc sống mỗi ngày của chính chúng ta. Là mớ rau có màu xanh đậm và non mướt tới mức nghi ngờ trong bữa cơm gia đình. Là những xóm, những làng ung thư đang ngày một trở nên phổ biến trên cả nước. Là những đứa trẻ bị trưởng thành, dậy thì sớm do uống phải những loại sữa có chứa chất kích thích tăng trưởng hormone ngay từ thuở sơ sinh, v.v… Đọc những trang văn có phần luận chiến nhiều hơn miêu tả, giãi bày của Trương Văn Dân, những ai còn có lương tri và hiểu biết thật khó mà yên được.
Và giữa tất cả những ám ảnh bất an đó, tình yêu của Gấm như một con suối mát lành cố như muốn làm dịu đi sự gay gắt, nhức buốt của hiện thực. Mới đọc sách, tôi cứ tưởng người viết đang trở lại với lối viết tiểu thuyết theo kiểu “ba xu” của những cuốn sách in chữ to dành cho những bà nội trợ, bán hàng thuê đọc ngày xưa. Ấy vậy mà càng đọc, càng thú vị và thấm thía với những khoảnh khắc đầy trải nghiệm sâu sắc của một người vốn đã nhấm nháp khá nhiều cái dư vị chua chát của cuộc đời. Đọc sách của trương Văn Dân, thấy anh đọc nhiều văn chương của bạn bè, của các tác giả lớn trên thế giới, lại cũng thấy anh mê kinh Phật, mê những triết lý gần gũi với cuộc đời hơn là những mớ lý thuyết suông, nghe thì vô biên mà thực chất chẳng đem lại chút giải thoát, thanh thản gì cho cuộc đời. Tiêu đề cuốn sách không hiểu sao gợi một cảm giác thật xót thương. “Bàn tay nhỏ dưới mưa”, nó phải chăng cũng chính là biểu tượng về thân phận của con người giữa cuộc đời này. Mỗi thân phận đang trôi đi giữa dòng đời có lẽ cũng chỉ là một bàn tay nhỏ, chẳng che nổi chính mình, sao có thể che đỡ nổi cho ai khác giữa cơn mưa dông ập tới. Cơn mưa cuộc đời chẳng chừa ai cả. Nó trút xuống mỗi số phận, mỗi bàn tay nhỏ, dù bàn tay đó chấp nhận buông xuôi hay vẫn luôn gắng gượng che chắn trong hy vọng.
Có lẽ, với tình yêu, tôi đã đọc được nhiều trang sách trước khi đến với Bàn tay nhỏ dưới mưa của Trương Văn Dân. Nhưng với toàn cầu hóa, với hiện đại hóa được đưa vào văn chương, anh là người đầu tiên khiến tôi cảm nhận được sự gần gũi và sát thực đến thế của những câu chuyện, những vấn đề mang tầm cỡ nhân loại. Người ta phải đủ uyên bác tới mức thế nào mới có thể nói một cách giản dị về những điều phức tạp. Trương Văn Dân đã làm được điều mà tôi cho rằng không hề đơn giản. Người ta nói đông, nói tây, nhưng những câu chuyện của đời sống hàng ngày, những điều đe dọa cuộc sống hàng ngày thì không phải ai cũng có khả năng lý giải thuyết phục. Tôi chỉ tiếc, giá như anh “mềm” hơn nữa trong cách ứng xử với những tư liệu về thời sự, chính trị, kinh tế, xã hội, “mềm” hơn trong cách đưa chúng vào văn chương, tạo ra những bối cảnh, những kết cấu để chúng xuất hiện tự nhiên hơn thì chắc chắn, tác phẩm của anh sẽ thành công hơn nữa.
Có lẽ, tôi là một người đọc nhiều lý trí hơn tình cảm nên thực sự bị lôi cuốn vào mạch nội dung thứ nhất. Và rất chủ quan, tôi đồ rằng, người viết cũng dụng công vào mảng nội dung này hơn là những trang viết, dù rất công phu, kỹ lưỡng, anh dành cho cuộc tình của Gấm. Vẫn biết rằng, dù nhân loại có tiến đi đâu đi nữa thì câu chuyện của văn chương vẫn chỉ loay hoay quanh những vấn đề của tình yêu và cái chết mà thôi. Nhưng để cảm nhận được sâu sắc giá trị lớn lao và đích thực của tình yêu, người ta cũng lại phải hiểu thật rõ những nguy cơ, những mối hại mà đời sống đang làm nảy sinh ra thêm trong tiến trình phát triển này đối với tình yêu. Chẳng phải chính những nhu cầu hưởng thụ, ham vật chất của thời hiện đại đang làm con người xa lánh nhau hơn đó sao? Chẳng phải chính những truyền thông về thái độ, quan điểm sống tôn sùng giá trị vật chất đang đẩy con người thành những cỗ máy, những rô bốt lãnh cảm, từ lúc mở mắt đi làm cho tới khi nhắm mắt bước vào giấc ngủ chỉ đau đáu với ý nghĩ làm thế nào kiếm được thật nhiều tiền đó sao? Trên thực tế, thế giới hiện đại với tất cả những tổng lực của nó đến từ nhiều phía đang tạo ra một guồng quay khốc liệt với những thang bậc giá trị được định hình vô lối. Người ta bị ảo tưởng giữa những lời khen, những tung hô tưởng như rất thực, song thực tế lại là những viên kẹo bọc đường. Thế giới hiện đại có khả năng kỳ diệu trong việc tạo ra những hệ thống mỹ từ có thể xoa dịu, đánh tráo khái niệm với những sự thật vốn trần trụi và thô thiển hơn rất nhiều. Người ta bị “đánh bả” bởi những ngôn từ mỹ lệ như “hội nhập”, “toàn cầu”, “phát triển bền vững”, “hai bên cùng có lợi”, v.v… Rõ ràng, tất cả những áp lực kinh hoàng đó đang khiến con người xa rời nhau, xa rời những tình cảm chân thành, đúng mực, những giá trị sống căn bản, cốt lõi của loài người vốn tôn thờ qua bao nhiêu thế hệ. Vậy nên tôi vẫn nghĩ, câu chuyện tình của Gấm, rốt cuộc, chỉ là một cái đòn bẩy để Trương văn Dân nói nhiều hơn về những nguy cơ của thời đại đối với con người, với tình yêu và những giá trị nhân bản lớn lao. Gấm chết bởi sao? Chẳng phải chính bởi ung thư, căn bệnh vốn đã trở thành nỗi ám ảnh kinh hoàng của toàn thế giới trong khoảng vài thập kỷ trở lại đây và khoảng mươi năm gần đây với người Việt Nam đó hay sao? Vì sao có ung thư? Câu trả lời có lẽ chẳng cần nói ra ở đây nữa. Bởi gần như xung quanh cuộc sống của mỗi người Việt Nam bây giờ, việc tìm ra một người chết vì căn bệnh này xem ra quá đơn giản. Cái chết trở thành điều bình thường cũng là một ám ảnh quá đỗi kinh hoàng của thời đại chúng ta đang sống.
Mặc dù người viết (hoặc nhà xuất bản) đã định danh thể loại cho cuốn sách này là “tiểu thuyết”, nhưng tôi muốn thêm vào hai chữ “luận đề” vào đó. Bàn tay nhỏ dưới mưa là cuốn tiểu thuyết trình bày quan điểm của người viết về những nguy cơ ở tầm thế giới nhân loại đang diễn ra khốc liệt ngày hôm nay. Người viết đã khéo léo tìm một cách nói rất “trữ tình”, dù đôi lúc anh không thể vịn vào cái áo trữ tình đó khi nội dung luận bàn về quan điểm trở nên quá “chật chội”. Nhưng theo ý riêng của tôi, ở một chừng mực nhất định, Trương Văn Dân đã nói được cái điều anh định nói một cách giản dị nhưng vô cùng thuyết phục. Cuốn sách của anh là một món quà quý với những độc giả ham chuộng tư tưởng khi đọc văn chương.
Hà Nội ngày 3-9-2012
Dương Kim Thoa 

Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2012

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



KÝ ỨC THÀNH CỔ BÌNH ĐỊNH

Dong lai 
                                                           

Ít có đâu như An Nhơn, một miền đất nhỏ mà hai lần là kinh đô của hai vương triều và một lần là thủ phủ của một tỉnh. Thành Đồ Bàn là kinh đô của Chiêm Thành, kể từ thời vua Ngô Nhật Hoan ( thế kỷ thứ X) tám thế kỷ sau thành này được đổi tên là thành Hoàng Đế, làm đế kinh của Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc, triều Tây Sơn. Tới thời nhà Nguyễn với chủ trương trả thù, xóa bỏ tàn tích cũ của nhà Tây Sơn, thành Hoàng Đế bị triệt hạ để lấy gạch nung và đá ong xây thành mới là thành Bình Định ở phia Nam, cách chừng năm cây số, để làm thủ phủ của tỉnh Bình Định. Thủ phủ này kéo dài cho tới khi Nguyễn Hy làm Tổng đốc Bình Định (khoảng 1934 – 1935) mới được dời về Quy Nhơn (1).

Thành Bình Định trong ký ức tuổi thơ của tôi là một ngôi thành bị đập phá từ hồi nào, đã trở thành hoang phế. Trong thành không còn hành cung, dinh thự nhà cửa gì hết, nền cũ, thềm xưa còn trơ ra mấy nếp, mấy bậc lở lói… Đường trong thành còn để lại dấu tích là các ô đường bàn cờ, nhưng đã bị trùm lấp bởi các loại dây leo và giống cỏ dại, có sức lan tỏa rất nhanh; kế đến là những hàng cây gòn thân cao, đứng thẳng, xòe tán rộng trên cao thường có chim chóc bay về… Cũng có một ngôi chùa cổ là chùa Bửu Long ở gần cửa Tiền (còn gọi là cửa Nam), dành riêng cho các quan chức và gia đình của họ đi lễ Phật. Khi ngôi thành trở thành hoang phế, tiếng chuông chùa sớm chiều vẫn ngân nga xuống phố, nhưng dường như có vẻ u trầm hơn, thường gợi cho người mộ đạo hiểu sâu xa thêm cái lẽ vô thường nơi cõi trần thế.
Cây gòn ở đây nhiều lắm và còn được trồng lan ra ở cả ngoài phố chợ nữa. Tán gòn giao nhau trùm mát các lối đi, nhiều khoảng đất rộng rãi trong thành, nó tạo nên một vùng xanh um cổ thụ. Hiếm thấy ở bất kỳ  đâu như ở thành Bình Định, khi vô số những trái gòn kia đến mùa nở bông và sẵn sàng tung lên bầu trời, thả bay theo chiều gió những chùm bông sợi màu trắng tinh anh, trông rất mênh mông, phiếu diểu. Bạn đang đi trên đường phố, một mảng bông gòn thình lình đáp nhẹ lên mũ, lên đầu, lên mặt bạn…Bạn vừa đi vừa gỡ mảng bông gòn tinh nghịch ấy, cũng thấy vui vui.
Thành còn để lại tường cao, hào sâu vây bọc xung quanh và ba cửa thành mở ra ba hướng khác nhau.
Tường cao cho những người chăn thả trâu bò lên đó ăn cỏ, và người ta cũng thích leo lên cao để tìm cái “bát ngát xa trông” ở quang cảnh trời đất bốn bên. Hào sâu thì mọc đầy bèo lục bình, cho cá quẫy, cũng có chỗ cho người ta thả những dề rau muống nước nở hoa màu tím trên cái nền rau xanh ngắt trải ra dưới nắng.
Thực ra là có bốn cửa thành.
Cửa Tây mở ra cho người các làng phía Tây thành như Kim Châu, Hòa Cư đi chợ Bình Định, cửa Đông cho dân phố chợ, dân làng An Ngãi, người các nơi khu Đông thành đi lên ga xe lửa Bình Định, đi đất võ An Thái ở phía cực tây huyện, non mươi cây số. Thỉnh thoảng có những chuyến xe ngựa ngược xuôi, chở hành khách chạy qua thành, chui vào các cửa Đông, Tây, thường được nghe mùi ẩm ướt và rêu mốc từ vách đá ong của cửa thành tỏa ra. Tựa vào cửa Tây, có ông lão chuyên trồng hoa và bán kẹo kéo dựng nhà tranh vách lá ở tạm. Không ai biết, ông lão từ đâu đến, một người ngụ cư, cô độc. Ngày ngày, ông làm kẹo kéo, mang đi bán rong ngoài phố huyện với chiếc bàn xếp quay số trên vai; thì giờ còn lại ông trồng hoa và chăm hoa. Ông có những chậu hoa nở tứ thời, rồi cứ mỗi độ đến Tết thì vườn hoa của ông nở rộ. Những chậu hoa cúc, mai, hồng, thược dược...khoe hương sắc từ bàn tay ông trồng, được người trong phố huyện Bình Định và các vùng phụ cận đua nhau đến mua, đem về thưởng xuân.
In đậm trong ký ức tôi là cửa Tiền thành Bình Định. Mặc dù cửa này đã sụp đổ, hoang phế mà bóng kỳ đài với trụ cờ hình xương cá cao chót vót vẫn còn đó, người trong thành đứng đâu cũng nhìn thấy. Và còn nữa, trước mặt cửa Tiền thành là một bến sông hằng ngày vẫn nghe được tiếng mái chèo khua nước và tiếng gọi đò vọng tới – bến Trường Thi. Cách bờ bên kia bến sông không xa (trong làng Hòa Nghi – quê ngoại của nhà thơ Yến Lan) là trường thi Hương Bình Định được lập ra để tuyển chọn cử nhân cho mấy tỉnh trong vùng Nam Trung Kỳ. Bến Trường Thi sẽ mãi gắn liền với lịch sử khoa cử, còn bến "My Lăng'' của nhà thơ Yến Lan (trong nhóm Bàn Thành tứ hữu: Quách Tấn – Hàn Mạc Tử – Chế Lan Viên – Yến Lan) thì cùng với nhà thơ mà lưu danh mãi:
                 "Bến My Lăng nằm không thuyền đợi khách
                  Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
                  Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
                  Ông lái buồn để gió lén mơn râu" 

            Cửa Đông thành Bình Định mở ra cho thông thương với khu phố thương mại và chợ Bình Định (Còn gọi là chợ Gò Chàm) với phố xá và cảnh bán buôn. Nghe nói hồi xưa, cửa Đông cũng là cửa để đón các quan trên về kinh lý. Cửa Đông sẽ mãi gắn liền với lịch sử đấu tranh chống Pháp và triều đình Huế bằng cuộc nổi dậy đòi giảm sưu thuế, bị đàn áp đẫm máu, hồi năm 1908. Nhà ở của các nhà thơ Yến Lan, Chế Lan Viên cạnh cửa Đông. Cho nên, đây cũng là nơi nhóm “Bàn thành tứ hữu” thường hội tụ lại để ngâm vịnh và gắn kết keo sơn thêm tình thi hữu bền vững hiếm có. Cách nay mấy năm, người ta xây dựng lại cửa Đông với ý tưởng phục hồi lại cửa này, nhưng đã không thành, vì cửa mới là cửa lầu, hoành tráng và hiện đại quá, không giống chút gì với cửa Đông cũ đơn sơ mà đậm nét cổ xưa. Đường phố không rộng, nhà phố lợp ngói âm dương, mái hiên thấp, trồi sụt khác nhau. Nhà nào cũng mở tiệm, tiệm người Việt, người Hoa san sát nhau. Người Việt buôn bán hàng trống, hàng vải, hàng đồng, hàng đường; người Hoa bán thuốc Bắc, trà Tàu, hàng mã, nước tương …Con phố sầm uất nhất là đoạn Quốc lộ số 1 chạy ngang qua, trên phố này có nhà Bưu điện và mấy tiệm bán sách, báo.
        Chợ Bình Định là chợ Khu Vực, chung cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Gia Lai, Đắc Lắc…cho nên chợ được xây dựng với quy mô to lớn (cột lều bê tông – cốt thép, khung lều sắt tây, mái lợp ngói Phú Phong ) hàng hóa thì nhiều, không thiếu những mặt hàng nổi tiếng của Bình Định, như đồ cẩn xà cừ, đồ đồng thau, đồ thêu thùa, tơ lụa, đường cát... Và có cả trâu khỏe, bò sức, ngựa hay… bán ở Chợ Gia súc gần đó.
          Còn cửa Bắc là cửa dẫn giải tù nhân bị án tử hình đi xử chém. Cửa này bị lấp kín lại từ lâu lắm, không để lại một dấu tích gì, ngoài các cụ già kể lại.

           Đứng trên mặt tường thành bao bọc bốn bên, nhìn bao quát, sẽ thấy phía Đông với bốn ngôi cổ tháp có tên là tháp Bánh Ít như bốn dấu chấm than chấm lên vòm trời xanh lơ. Phía Nam là hòn Ông, hòn Bà hùng vĩ, uy nghi; tương truyền hòn Ông là núi đá nam châm, cho nên người ta đồn rằng, thời kháng chiến chống Pháp, máy bay Pháp không dám bay ngang qua, vì sợ “núi hít”! Phía Tây, dòng sông Côn chảy lững lờ giữa ruộng đồng mênh mông, bát ngát. Có một ngã ba sông với cái đập nước Phụ Ngọc thường đổ nước ầm ào cũng bát ngát, mênh mông, và hay nhuộm màu ráng đỏ mỗi chiều về. Phía Bắc xa xa, một quần thể danh lam thắng cảnh: thành Hoàng Đế, núi Bà, hòn Mò O (còn gọi là hòn Mù U) tháp Cánh Tiên, tháp Phốc Lốc, chùa Thập Tháp A Di Đà... Nó có cái kỳ vĩ, cẩm tú, hữu tình của nước non, nhưng cũng chứa chan vị ngậm ngùi của mấy lớp phế hưng, dâu bể trong chiều dài lịch sử.  Có câu ca dao cũng là câu hát ru em của vùng nầy:
               ''Ngó lên hòn núi Mù U
               Thấy ba ông cọp đội dù nấu cơm
                Một ông xách chén đi đơm
                Hai ông ứ hự nồi cơm mới vần''.
Người ta vẫn bảo, đó là câu ca tả việc bếp núc, ăn uống của đạo quân ông Nhạc khi về tập luyện và dưỡng quân ở đây. Lại có chuyện kỵ binh Tây Sơn tập trận ở tháp Bánh Ít. Sau mỗi buổi tập, đàn voi ngựa  xuống bến sông Tân An (dưới chân tháp) tắm mát và uống nước :
                    “Nước Tân An có bao giờ cạn
                   Dẫu trăm voi, ngàn ngựa uống tối ngày
                   Nghĩ người Nhạc, Huệ tài thay
                   Cờ đào áo vải mà dày nghĩa nhơn''.
Má tôi thường đọc ''Vè ông Tiến sĩ'', tả cảnh ông Tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo thủ lĩnh phong trào kháng thuế năm 1908 ở Bình Định bị bắt giam, cùng với các đồng chí của ông, cho anh em tôi nghe. Bị ám ảnh bởi tiếng kèn trong mấy câu vè ''Đêm năm canh kèn thổi tò toe / Ngày sáu khắc đứng ngồi chẳng tiện / Thiếu chi kẻ thiên kinh vạn quyển / Lâm cảnh tù hiền giả hóa ngu'' cho nên khi đi học tiểu học ở trưòng huyện lỵ Bình Định, tôi thường thơ thẩn trong thành vào những buổi nghỉ học để tìm xem, đâu là dấu tích còn lại của đồn lính, trại giam ngày xưa, nơi Tổng đốc Bình Định giam cầm những người đi biểu tình.

             Cho tới bây giờ, mỗi khi nhắc lại hào khí đánh Pháp những năm đầu của cuộc kháng chiến, người Bình Định, nhất là người An Nhơn, không thể nào không nhắc lại những ngày đêm rầm rập, khẩn trương, cả huyện đi phá thành Bình Định để “tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến quân thù. Hồi ấy, tâm trạng chung của nhiều người là rất tiếc ngôi thành cổ, một công trình kiến trúc to đẹp không còn nữa, nhưng đành lòng chấp nhận. Vì người ta tin rằng ngày mai mình sẽ được cái rất lớn là nước nhà độc lập, nhân dân ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, bước ra đón ánh sáng của cuộc đời tự do mà người ta đã từng trăm năm, ngàn năm mơ ước.

          An Nhơn ngày nay là một thị xã có cơ cấu kinh tế công – nông – thương mại – dịch vụ hiện đại trên cơ sở “An Nhơn - đất trăm nghề” có truyền thống từ xưa giờ. Các thành phần kinh tế này đang hoạt động có hiệu quả. Thành cổ Bình Định được quy hoạch và xây dựng thành khu vực hành chánh của thị xã với nhiều khối nhà to đẹp, bề thế. Cửa Lầu (tên gọi sau khi người ta gỡ bỏ hai chữ Cửa Đông) là địa điểm thường tổ chức các sinh hoạt văn hóa – văn nghệ của Hội Văn học – Nghệ thuật và Trung tâm văn hóa thị xã.

                                                                                                 
 (1) Theo “Nước Non Bình Định”  của Quách Tấn.

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012


ĐỜI MONG MANH LẮM, hãy yêu nhau

   (Vài cảm nhận khi đọc “BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA” tiểu thuyết của nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN )
                      (cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)

              Trần Kim Đức







Gấm, nhân vật chính trong truyện với số phận bế tắc, đã trải qua hai đời chồng không hạnh phúc, có một cô con gái tên là Liên. Gấm luôn khao khát một tình yêu đích thực, đi tìm một nửa của đời mình. Và đến gần bốn mươi tuổi, Gấm cũng đã tìm được một nửa mình đã mất. Cô đón nhận hạnh phúc với người đàn ông là nhà báo đã có vợ, nhưng vợ và con đã chết trước khi gặp Gấm. Tưởng đã gặp một tình yêu đích thực và hạnh phúc bên nhau đến trọn đời, nào ngờ Gấm tiếp tục đón nhận những éo le của số phận đời mình với căn bệnh ung thư “Những tháng ngày hạnh phúc vừa qua rồi sẽ tan biến trong khoảnh khắc”.

 
 
Tình yêu mà Gấm đã dành cho người đàn ông nhà báo là tình yêu hiến tặng, họ luôn mang đến hạnh phúc cho nhau từng ngày, từng giờ. Với họ không có  thứ tình yêu hệ lụy. Tình yêu đã làm cho Gấm quên đi những khổ đau của đời mình : “Khi sống với nhau, Gấm thường cho mình yếu đuối, nhưng thật ra nàng là người đàn bà lãng mạn và can đảm nhất trần gian. Cho đến phút chót, nàng đã không chạy trốn mà còn thách đố với đời để giành lấy tình yêu từ tay thần chết, dâng hiến cho người tình một cuộc ái ân vừa cuồng say vừa đầy nước mắt, hương vị đậm đà cho đến giọt cuối cùng của niềm hoan lạc.

Rồi vĩnh viễn yên nghỉ trong vườn địa đàng.

Vì  yêu thương mà sợ mất mát. Và vì biết mất mát nên càng muốn hiến dâng. Khi ý thức được  đời sống của mình mong manh quá nên Gấm muốn trao tặng cả bản thân cho một tâm hồn đồng điệu rồi ra đi chẳng có gì hối tiếc.”

Cả  hai đều  đón nhận một tình yêu đích thực, họ biết xoa dịu lẫn nhau, thấu hiểu lẫn nhau để tìm đến đỉnh cao của hạnh phúc: “Vậy đó, anh có một khả năng hóa giải rất đặc biệt. Nỗi buồn chưa kịp định hình thì anh đã làm cho tan biến. Đang có điều lo lắng, ưu tư, anh bước đến ôm đầu tôi, áp hai trán và hai đỉnh mũi chạm vào nhau để làm tôi bật cười. Thế là nỗi lo bay đâu mất”

Tình yêu là nghiệp ái, cuộc đời này là vô thường, hạnh phúc rồi cũng như giọt sương, rất đỗi mong manh, dễ tan vỡ. Chuyện hợp tan là do nhân duyên, vì thế mà họ rất trân quý và đón nhận tình yêu trong từng ngày, từng giờ. Họ luôn tha thứ cho nhau và chấp nhận nhau mà sống thật trọn vẹn hạnh phúc với một nửa mình tìm thấy: “..Tôi cảm nhận ngay điều đó từ những phút đầu tiên. Cảm giác mơn man khi vừa gặp một người mà như đã thân quen. Cuộc sống vốn lạnh lùng với những quan hệ hời hợt trong công việc, thân thiện mà xa cách… còn chúng tôi như đi vào đời nhau, bước vào thế giới riêng tư bí mật không rào, không đón. Cảm giác thuộc-về đã nhen lên ngọn lửa ấm áp từ ngày đầu tiên… rồi nàng cảm phục… và tôi cũng trải lòng cho người mình thương mến. Và cứ như thế… chúng tôi yêu nhau như hai dòng suối hòa lẫn vào nhau, biến thành một dòng sông êm đềm có chung dòng chảy…”

Họ  đã nuôi dưỡng tình yêu của mình bằng tâm “bất sinh, bất diệt”, để yêu thương và sống thật hạnh phúc bên nhau, vì : “Chỉ trong tình yêu, con người mới tìm ra lẽ sống của mình. Bởi chết vì tình yêu thì đâu có nghĩa là chết. Mà chỉ là hiến dâng. Là cái chết trong muôn lần chết. Và tình yêu sẽ đi vào cõi vô sinh vô diệt”. Thật diệu kỳ!

Thoạt  đầu, tôi đã bị lôi cuốn bởi lời  giới thiệu trong cuốn tiểu thuyết “Bàn tay nhỏ dưới mưa” của nhà văn & dịch giả Nhật Chiêu : “Cái phong vị nồng thắm của tác phẩm nằm trong những nghịch lý mà nó muốn hóa giải: sống-chết, khổ-lạc, sáng-tối, mất-còn, ngã-tha, cũ-mới, tự nhiên-văn minh, vô thường-vĩnh cửu….

Chọn  điều này sẽ phải bỏ điều kia và như  vậy khác nào đánh mất cả hai?

Nhân vật và người kể chuyện muốn vượt qua vô  vàn tình huống phân biệt đó để trải nghiệm cái nhất như hoan lạc, một tư tưởng nhuốm màu sắc Phật giáo, đặc biệt phảng phất kinh Duy Ma”

Nhìn thẳng vào sự trần trụi  như vốn đã có trong cuộc sống thực của con người mà không qua lăng kính của định thức, con người ngoài bản năng còn có ý thức, những cuộc ái ân mặn nồng, hoan lạc  vốn là bản năng trần tục của con người nhưng khi tình yêu thăng hoa đã  gắn kết hai thân xác với nhau như chỉ còn lại một hình hài duy nhất nó sẽ trở thành một bản thể tốt đẹp, cái mà triết học Đông phương gọi là âm dương hòa hợp : “Trong phút giao hòa ấy, chúng tôi tưởng như chỉ còn lại một hình hài duy nhất. Hai xác thân từ trong tiền kiếp bị chia lìa giờ hòa làm một, xác thịt quay cuồng trong bão tố, nạp nguồn nhiên liệu từ ngọn lửa tràn đầy sinh lực của khát vọng. Tôi ôm lấy Gấm, cả hai tận hưởng dư vị của trái cấm trong cảm giác say sưa. Rã rời và buông thả. Hình hài quằn quại như đớn đau nhưng hoan lạc vươn lên đỉnh điểm”.

Tình yêu  đã giúp cuộc sống của họ thăng hoa giữa một xã  hội buộc con người phải chạy đua với mọi thứ. Nói đến đây tôi lại nhớ đến lời bài hát của Trịnh Công Sơn: “Một ngày tình cờ biết em là ngày lạ lùng biết trần gian”. Biết em rồi mới biết trần gian, đó cũng là cái tội của Eva đã nghe lời con rắn quỷ quyệt dụ dỗ ăn trái cấm là trái biết thiện, biết ác và dụ dỗ Adam cùng ăn. Tưởng là ăn trái cấm rồi sẽ biết đâu là  thiện-ác, đâu là tốt-xấu, tưởng là sẽ được khôn ngoan, hạnh phúc, nhưng sau khi ăn xong Eva và Adam tự thấy xấu hổ và lấy lá che lại. Suy cho cùng, thiện hay ác, đẹp hay xấu,…  là do con người quy định. Cuối cùng họ phải rời khỏi vườn địa đàng và cũng từ đó  có chốn trần gian với hỷ, nộ,  ái, ố, lạc, dục  đầy bất trắc. Tác giả đã chuyển tải các vấn đề rất mạch lạc, từ sự gian tham, tàn ác và dục vọng của con người, con người đã tự hủy hoại những cái hay, cái đẹp, phá hoại cái gốc tự nhiên vốn có của mình và  môi trường : “Nếu xưa kia các nền văn minh cổ đại đều xem là thiêng liêng, là các yếu tố căn bản của sự sống thì nay tất cả đất, nước, khí, lửa  đều bị ô nhiễm và toàn bộ hệ sinh thái đang bị rối loạn sự cân bằng. Bác nghĩ là trong sự hỗn loạn đó, chỉ cần một tế bào bị nhiễm độc thôi là sẽ không hoạt động bình thường, mà đột biến lớn lên như vũ bão và trở thành một khối bầy nhầy, de dọa và triệt tiêu cuộc sống. Hiện nay chúng ta có rất nhiều căn bệnh mới vì sự sống bị đảo lộn và càng ngày càng có nhiều hệ động- thực – vật tuyệt diệt, không thể tái sinh. Thế mà khi đọc các tài liệu về cách phòng ngừa ung thư, người ta còn khuyên chúng ta hãy sống trong môi trường sạch đẹp, bầu không khí trong lành. Thật là mỉa mai! Vậy chúng ta, con người hiện đại sẽ tìm đâu để có được một điều kiện sống như vậy?..”.
Quay cuồng trong cơn lốc bạo tàn của định mệnh, dù đớn đau vật vã trong một thế giới gian tham lam, ô nhiễm... thế nhưng Gấm và người tình vẫn đấu tranh, chấp nhận và tha thiết yêu thương: Một tình yêu mãnh liệt mà đọc lên ai cũng phải thèm khát với những trang viết về sự hoà nhập giữa thể xác và tâm linh đầy cảm xúc và cực kỳ linh động.
Tôi nghĩ, Trương văn Dân đã đưa tình dục vào tác phẩm văn học là để nói đến cái gốc tự nhiên của con người, nói lên sự thánh thiện của tình yêu, bộc lộ sự giải tỏa những ức chế và sự cô đơn trong cuộc sống, để trở về sống với con người thật của chính mình. Hơn nữa để lột trần sự thật  mà con người thường cứ cố né tránh, không dám nhìn vào sự thật như cái thực của tình yêu ở cõi trần gian : “Cảm ơn em, vì nhờ có em mà anh hiểu được một tình yêu vừa thánh thiện vừa mê say trên cõi đời này là có thật. Tình yêu đó vừa nhẹ nhàng vừa mãnh liệt, vì chúng mình đã yêu nhau trong ý thức, trong vô thức và cả trong tiềm thức. Tình yêu đó đã mở tung cánh cửa tâm hồn và thể xác để cho tất cả cảm xúc tình yêu ào ạt tràn vào. Và, đúng không em, như thế đã là quá đủ để anh có thể an ủi mình rồi bước đi trên thế gian này trong tháng ngày còn lại, cho đến khi nằm xuống”.

Cảm nhận này là một cách đọc của riêng tôi với tác phẩm “Bàn tay nhỏ dưới mưa”. Nhà văn Trương văn Dân đã làm cho tôi nhận ra được nhiều điều trong cuộc sống để đạt đến sự an vui và tự tại.
Trần Kim Đức
Nguồn :   (trankimduc.wordpress.com)
Tập san  Quán Văn 008- 9-2012