.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Sáu, 7 tháng 12, 2012

TRẦN QUANG LỘC
                              Bến đò xưa
               hoang vắng


                                                              Truyện ngắn
      
  - Đò ơi ! Đò ... ò ... ò ...
            Đứng bên nầy sông nhìn sang bến đò năm cũ nhạt nhòa sương khói, tôi cất tiếng gọi đò. Âm thanh "đò" kéo dài vang vọng trên dòng sông gợn sóng rồi lịm tắt trong buổi chiều cuối năm se lạnh.
  - Đò ơi !
   Tôi định lấy giọng gọi tiếp thì một người đàn ông đang đứng trên bãi dâu cạnh đó, lên tiếng :
            - Đò giang đâu nữa mà gọi. Chú em muốn sang sông cứ đi thêm quãng nữa sẽ có cầu. Bến đò đã bãi bỏ lâu rồi.
            Theo sự chỉ dẫn của người đàn ông tốt bụng, tôi đi dọc triền sông một đỗi nữa gặp chiếc cầu xi măng khỏe khoắn níu chặt đôi bờ thưa thớt mấy bụi tre già đang run rẩy và những khóm cừa tàu soi mình trên nước biếc.
            Sang bên kia sông, tôi hết sức ngỡ ngàng, làng xóm bây giờ rất khác xưa, suýt nữa tôi không còn nhận ra.
 


            Con đường liên thôn liên xã đỏ quạch màu đất bazan với hàng trụ bằng tre khẳng khiu ruỗng mục móc đầy dây dẫn điện bùng nhùng rối rắm xẻ dọc làng Nhơn Hạnh ra làm hai nửa, nửa nào cũng xám xịt trống huếch, thiếu hẳn màu xanh tươi mát của vườn cây, của lũy tre làng đã bị triệt hạ để lấy chỗ xây nhà bán đất. Dọc theo con đường mới mở còn lồi lõm ổ gà, sống trâu là hai dãy nhà lợp tôn móc ngói; lấn ra, thụt vào; mới cũ, to nhỏ, cao thấp khác nhau; nhớp nháp bụi đường. Thị tứ mới toanh, nghèo nàn, nham nhở nhưng lúc nào cũng đầy ắp những âm thanh ồn ào náo nhiệt tỏa ra từ các quán cà phê, quán nhậu bình dân, hàng trò chơi điện tử ...
           
Giữa buổi chiều quê ồn ào sôi động bởi những âm thanh của chốn thị thành, bỗng có tiếng võng đưa kẽo kẹt với lời ru khắc khoải nghe xa vắng mơ hồ như từ trong thẳm sâu quá khứ.
            Làng Nhơn Hạnh bình yên, êm ả đã bị làn sóng văn minh đẩy lùi vào quên lãng !
            Quê tôi miền trung du. Làng Nhơn Hạnh nằm dọc dòng Kôn xanh biếc, tuy là quê cô nhưng với tôi có nhiều kỷ niệm.
            Tuổi thơ của tôi không được may mắn như bạn bè cùng trang lứa. Năm bốn tuổi, mẹ mất vì căn bệnh hiểm nghèo khi tuổi đời còn rất trẻ. Cha tôi sống trong cảnh nghèo túng quanh năm trên cái làng nhỏ của một huyện miền trung du bốn bề đất đai khô cằn sỏi đá và cứ mỗi hoàng hôn bảng lảng sương mù. Mặc dù vậy, ba tôi vẫn quyết tâm nuôi tôi ăn học để sau này có cuộc sống khá hơn. Năm tôi thi đỗ bằng tiểu học cũng là năm ba tôi sang Mỹ theo diện HO. Cô tôi từ miền xuôi vượt hàng trăm cây số lên đón tôi về nuôi dưỡng. Ngày theo cô về xuôi, tôi không tránh khỏi luyến tiếc bùi ngùi vì phải xa làng, xa quê, xa mảnh đất trung du tuy nghèo nhưng ở đó, tôi đã trải qua thời thơ ấu.
           
 Cô tôi sống đạm bạc trong căn nhà tôn vách ván cạnh bến đò Trường Thi nhộn nhịp khách thương hồ, mặt hướng về dòng sông Kôn xanh biếc êm đềm với những con đò dọc, đò ngang sớm chiều khỏa nước. Nghe tin cô tôi vừa đón về một đứa cháu ruột, bạn bè hàng xóm đến chúc mừng thăm hỏi. Ai cũng bảo tôi thông minh, ngộ nghĩnh, rắn chắc, là chỗ dựa của cô tôi lúc tuổi già sức yếu. Cô tôi chỉ cười, không nói. Còn tôi, cứ trả lời nhát gừng mỗi khi có ai hỏi đến.
           
 Mấy tuần lễ đầu, tôi rất buồn vì lạ người lạ cảnh, vì nỗi nhớ cồn cào, da diết. Những buổi chiều, tôi thường ra ngồi bên quãng sông vắng dõi theo bóng chim chao liệng trên dòng nước rực đỏ ánh hoàng hôn. Đêm, chới với, đắm chìm trong hoài niệm. Mỗi lần nghe tiếng gọi đò văng vẳng giữa sương khuya từ phía bên kia sông vọng lại, tôi càng nhớ quê, nhớ ba tôi da diết. Cô tôi vẫn nhẫn nại ngồi cạnh tôi phe phẩy chiếc quạt lá dừa vỗ về an ủi bằng giọng buồn rười rượi như từ trong sâu thẳm nỗi khổ đau : "Con người ai cũng có số phận riêng. Phải biết vượt qua số phận bằng nghị lực của chính mình con ạ ! Đừng buồn ! Tất cả rồi sẽ qua đi". Tôi không hiểu gì lời cô nói nhưng tôi yêu quí cô biết ngần nào.
           
Hồi ấy, cô rất chiều tôi, mỗi lần sang bên kia sông mua hàng họ về bán, cô thường đưa tôi theo. Có lần, ngồi trên chuyến đò sang sông, tôi hỏi cô :
            - Tại sao người ta gọi là bến đò Trường Thi hả cô ?
            Như một giáo viên dạy sử, cô giảng giải cặn kẽ:
            - Dưới triều nhà Nguyễn, phía bên nầy sông có trường thi Hương, cung cấp hàng trăm cử nhân tú tài cho các tỉnh miền Nam Trung bộ. Cứ ba năm tổ chức một kỳ thi Hương. Gần đến ngày thi, sĩ tử các nơi mang lều chõng, nghiên bút đổ về đây đông như trẩy hội. Bà con trong vùng dựng lều quán bán hàng cơm, giấy bút dọc hai bên các ngả đường. Đò ngang qua lại tấp nập trên dòng sông Kôn phục vụ sĩ tử và các quan giám khảo ở Kinh đô vào. Từ đó, bến đò mang tên Trường Thi. Gần bảy thập kỷ trường thi tồn tại và trên hai mươi kỳ thi Hương được tổ chức, phần lớn thủ khoa thuộc về tay sĩ tử Bình Định. Vì vậy, ở đây có câu ca còn truyền tụng :
                          Uổng công các tỉnh đường xa
                 Để cho Bình Định thủ khoa nhiều kỳ.
            Ông nội con cũng đậu đầu cử nhân kỳ thi Hương cuối cùng. Mãi đến khi việc học chữ Hán bị bãi bỏ, trường thi hoang phế dần rồi bị giặc Pháp đập phá, trường thi chỉ còn là những đống đất đá làm chứng tích. Bến đò Trường Thi vẫn tồn tại và là nguồn cảm hứng cho các thi nhân. Bài thơ Bến My Lăng nổi tiếng của nhà thơ Yến Lan ra đời cũng từ bến đò đầy gợi hứng nầy. Như chợt nhớ ra tôi chỉ là đứa bé vừa học xong tiểu học, cô cầm tay tôi, dặn dò - Con ráng học để sau này đỗ đạt như nội con ngày xưa.
            Thời son trẻ, cô dượng tôi sống rất hạnh phúc trên làng Nhơn Hạnh nằm dọc dòng Kôn xanh. Cô mở quán trên bến Trường Thi phục vụ khách thương hồ. Dượng tôi vừa dạy học vừa bí mật tham gia hoạt động cách mạng. Người con trai duy nhất của cô dượng đang học cấp ba.
            Rồi chiến tranh diễn ra ác liệt trên quê hương cô dượng, khói lửa ngút trời, đạn bom xới tung đường thôn ngõ xóm. Dượng tôi mất vào một chiều giông gió bên dòng sông Kôn trong trận càn quét tàn bạo của địch. Bốn năm sau, người con trai của cô dượng cũng hy sinh trên mặt trận Tây nguyên giữa mùa hè năm 72 rực lửa. Sự ra đi của đứa con trai yêu quí đã làm cho mái tóc cô bạc trắng, tinh thần suy sụp mặc dù lúc ấy tuổi chưa đến bốn mươi. Ngày toàn thắng, cả nước vang khúc khải hoàn, cô tiếp tục thân cò lặn lội ven bến sông xưa.
           
 Rồi tất cả cũng qua đi. Nỗi buồn của tôi đã nguôi dần theo tình thương của cô, theo dòng Kôn êm đềm với những chuyến đò ngang cần mẫn nối liền hai bờ lau lách. Làng Nhơn Hạnh êm ả chan chứa tình người giúp tôi tìm lại lứa tuổi hồn nhiên mà số phận đã cuốn trôi.
           
Đầu năm học mới, cô đưa tôi vào học lớp sáu, cùng trường với chị Thưa. Chị Thưa ở cách nhà cô tôi một thửa vườn rộng. Ba chị làm y tế xã, mẹ mở hiệu may trên phố huyện. Tuổi thơ của chị là chuỗi ngày tràn đầy hạnh phúc. Tuy lớn hơn tôi năm tuổi nhưng chị vẫn đang theo học lớp 8 trường làng. Ở vùng quê, trẻ con học muộn là chuyện thường. Tính chị Thưa vui vẻ hồn nhiên. Vì vậy, mới gặp chị lần đầu mà tôi đã cảm mến. Còn chị, rất thương tôi sớm mang thân phận nghèo, côi cút. Chị thường xưng hô "chị em" với tôi rất thân mật. Tôi và chị Thưa học cùng buổi nên sáng nào chị cũng ghé lại rủ tôi đi học. Tan trường, cùng về. Thường những buổi tối, chị hay đến nhà tôi chỉ hộ mấy bài toán khó rồi nói chuyện với cô tôi trước lúc ra về, hoặc rủ tôi đi xem hát mỗi khi có đoàn cải lương nào đó ở Sài Gòn ra diễn trên nhà văn hóa xã. Những ngày nghỉ học, tôi cùng chị Thưa lên khu đồi sau lưng nhà chị hái sim chín và nhặt củi khô đem về đun bếp. Có hôm, cùng ra tận quãng sông vắng đợi con nước ròng, bày trơ cát nhặt những con hàu con hến. Thi thoảng, những kỳ lễ tết, cô đưa chúng tôi lên thành phố Qui Nhơn ngắm biển, mua hàng. Từ ngày quen thân chị Thưa, tôi vơi bớt nỗi buồn, việc học cũng có chiều hướng tiến bộ rõ rệt. Tôi quí chị Thưa lắm. Vắng chị thấy nhớ.
           
Theo thông lệ, đầu tháng ba làng Nhơn Hạnh mở hội, người các nơi đổ về tưng bừng nhộn nhịp. Mới nửa chiều mà trống chầu đã nổi lên giòn giã, thôi thúc từ phía sân đình vọng lại. Hôm ấy, tôi đi học về đến nhà trời đã nhập nhoạng. Cơm nước xong xuôi, tôi háo hức đến rủ chị Thưa cùng dự hội làng. Dưới ánh trăng thượng tuần treo lơ lửng tận góc trời xa, chị Thưa nắm chặt tay tôi đi hết con đường làng rợp bóng rồi băng tắt qua mấy thửa ruộng dưa để kịp xem đoạn đầu vở tuồng "Đổng Trác hí Điêu Thuyền", vở tuồng Tàu mà cô tôi khen hay lắm. Đến một khoảng vắng, tôi bỗng kêu thét lên "ma" rồi quay lại ôm cứng lấy thân thể tròn trịa săn chắc, ấp mặt vào bộ ngực no tròn đầy gợi cảm của chị, thở dồn. Chị Thưa vòng tay âu yếm siết chặt lấy tôi nhận chìm trong hơi thở dịu ngọt dồn dập, gấp gáp của lồng ngực phập phồng rung rẩy, thoảng chút hương bưởi hương chanh tỏa ra từ mái tóc dài óng mượt của chị để rồi chỉ trog khoảnh khắc, nỗi sợ hãi tiêu tan, lòng tôi rộn lên cảm giác ngất ngây tê dại. Bất chợt, như bừng tỉnh cơn mê, chị khẽ đẩy tôi ra thở dài thảng thốt, cất giọng hổn hển :
            - Bù nhìn giữ dưa đấy em !
            Tôi ngơ ngác nhìn chị rồi lặng lẽ đi vào hội làng ...
           
Sau đêm hội làng không bao lâu thì ba tôi về làm thủ tục bảo lãnh cô cháu tôi sang Mỹ. Cô tôi dứt khoát không chịu rời bỏ quê hương xứ sở, mồ mả ông bà. Ba tôi cố thuyết phục nhưng vẫn không lay chuyển nổi ý chí của cô tôi. Riêng tôi, rất yêu cô, yêu da diết làng quê Nhơn Hạnh, yêu bến Trường Thi với những chuyến đò ngang ngày đêm cần mẫn nối lại đôi bờ, nhưng không phải vì vậy mà làm đảo lộn mọi lo toan tính toán của ba tôi.
           
 Trước hôm ra đi, tôi tìm chị Thưa để chào từ biệt. Tìm mãi rồi cũng gặp chị đứng lặng lẽ trên quãng sông vắng, mắt buồn thăm thẳm hướng về chuyến đò chiều khỏa nước trên dòng sông đỏ rực ráng hồng. Tôi khẽ khàng bước đến cạnh chị, giọng bùi ngùi :
            - Chị Thưa, sáng mai em đi ...
            Không lên tiếng cũng không ngoảnh lại nhìn tôi, chị bỗng đưa tay ôm mặt nấc nghẹn, bờ vai run rẩy theo nhịp sóng lòng dâng cuộn ... Lòng tôi cũng se lại. Bất chợt, như một cơn gió giật, chị quay lại ôm chầm lấy tôi, hôn tới tấp lên tóc lên cổ nhạt nhòa nước mắt rồi vụt chạy qua bãi dâu xanh ngắt, lồng lộng gió chiều.
            Đêm ấy, tôi cứ thao thức, trăn trở. Trước giờ phút ly hương sao mà buồn da diết !
           
 Tảng sáng hôm sau, chuyến đò đầu tiên trong ngày chỉ có ba con tôi và một nỗi buồn ly quê lặng lẽ rời xa bến. Trước mặt tôi, làng Nhơn Hạnh như bồng bềnh chao đảo trong sương sớm.
            Bất chấp con đò chòng chành, tôi bỗng đứng vụt lên gọi lớn :
            - Chị Thưa ! Chị Thưa ơi !
            Trên bến Trường Thi, chị Thưa đang đứng vẫy tay chào từ biệt. Con đò vô tâm cứ lặng lẽ xa bờ. Nhìn hình ảnh chị Thưa khép dần rồi khuất hẳn trong làn sương tím, lòng tôi cứ thấy rưng rưng.
            Sau mười năm ăn học nước ngoài, tôi đã trở thành nhà khoa học có tên tuổi đang xin về Việt Nam công tác theo nguyện vọng của ba tôi. Ngày trở lại quê cô như một kẻ lãng du quay về làng cũ lần tìm kỷ niệm của một thời dĩ vãng.
            Bước vào cửa hiệu uốn tóc, tôi hỏi một cô gái còn non choẹt, mặc quần đùi bó sát, phô diễn cặp giò mốc thếch đang ngồi tự dũa gọt móng tay :
            - Em làm ơn chỉ giúp anh nhà chị Thưa.
            Cô bé giương mắt nhìn tôi lắc đầu :
            - Ở đây không có ai tên Thưa !
            Một giọng đàn bà từ phía sau tấm vải màn cũ kỹ đầy cáu bẩn :
            - Thưa là Ngọc Ánh đấy con.
            Cô bé "à" lên một tiếng rồi đứng lên bước ra khỏi cửa, sốt sắng :
            - Đó, cái nhà hai mê ở tận đầu hồi đó. Cô bé nheo mắt nhìn tôi ra vẻ giễu cợt - Anh muốn hát phải không ?
           
 Đến nhà chị Thưa, thấy có tấm bảng nhỏ treo ngay ngắn trước cửa : "Phòng Karaoke vi tính". Tôi hồi hộp đưa tay gõ cửa khẽ khàng rồi chờ đợi nỗi vui mừng ập đến. Cánh cửa bật mở, âm thanh xập xình với giọng hát ồm ồm tuôn ra cùng lúc với cô gái xinh xắn hớt tóc tém, quần áo khêu gợi, mặt dày son phấn nhìn tôi dò xét. Trời ơi ! Chị Thưa của tôi đây sao? Phép lạ nào đã thay đổi chị Thưa xinh đẹp hiền lành nhân hậu thành cô Ngọc Ánh mắt xanh mỏ đỏ, tay chân đầy móng vuốt ?! Trong lúc tôi đang hoang mang dao động thì chị vẫn vô tình nhoẻn miệng cười duyên như chị thường làm chiều khách :
            - Anh thông cảm, em đang tiếp các sếp trên huyện.
            Tôi định cất tiếng gọi chị thì chị tỏ lời an ủi :
            - Đừng buồn ! Tối trở lại em sẽ lấy giá mềm hơn.
          
  Nói xong, cánh cửa khép kín, chị khuất hẳn sau lớp kính mờ để lại trong tôi một nỗi buồn thăm thẳm.
            Rời nhà chị Thưa, tôi lầm lũi đến bến đò ngày trước. Nhìn lại ngôi nhà của cô mà tim tôi đau nhói. Cô tôi mất cách đây năm năm. Ngày cô mất, ba tôi có về chịu tang. Riêng tôi, lúc ấy đang bận kỳ thi tốt nghiệp. Ngôi nhà từ đó thay đổi chủ. Bến đò Trường Thi bây giờ cỏ dại um tùm, phủ dày lau trắng. Cảnh cũ hoang vắng tiêu điều.
           
Tất cả chỉ còn là kỷ niệm !
            Tôi đứng vào vị trí mà chị Thưa đã đứng tiễn tôi ngày xưa, lặng lẽ nhìn quãng sông chiều vỡ vụn ánh hoàng hôn. Hình nhứ có tiếng gọi đò văng vẳng mơ hồ vọng về từ trong thẳm sâu ký ức.
                            Qui Nhơn - Buôn Ma Thuột
                                                        T.Q.L

Lắng Nhe Để Cải Thiện Các Mối Quan Hệ

                                                                   (ảnh trên mạng)

                        
 Lưu Xuân Thanh

    Ngày vui thường đi nhanh, tết Nguyên Đán Mậu Tuất trôi qua mau, thời gian nghỉ đã hết . Bọn học trò chúng tôi về trường tiếp tục học tập . Ngày ấy toàn tỉnh chỉ có ba trường cấp hai ( nay là phổ thông cơ sở ) và duy nhất một trường cấp ba  . Hầu hết học sinh đều  phải đem gạo tiền đi ở trọ xa nhà để học . Thời đó các ông bà chủ nhà không lấy tiền trọ , cũng chẳng ai đề cập việc này . Chủ nhà coi chúng tôi như con cháu  …Một tối sau khi đã làm bài xong .Trời mưa phùn se se lạnh , anh Nguyễn Văn Chương ( nay là nhà thơ Nguyễn Văn  Chương ) sang nhà trọ của tôi chơi . Bác chủ nhà đãi ấm chè xanh . Vừa uống trà vừa nói chuyện học hành . Anh học trên tôi , nên tôi nhờ anh giảng cho vài bài khó … Rồi anh đọc thơ Nguyễn Bính :

   …Đêm ấy mưa xuân lất phất bay
       Hoa xoan từng lớp rụng vơi đầy
       Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ
       Nghe nói thôn Đoài hát tối nay …
    Đọc xong bài thơ , anh bảo tôi : Tớ và cậu thư giãn bằng cách xứng họa thơ với đề là Tiền và anh đọc luôn :
                         Thứ sáu tuần nay tớ hết tiền
 Tôi họa tiếp :  Phải đi mượn gạo mấy bữa liền
 Anh Chương : Nhìn vào hũ muối ôi đã nhẵn  
  Tôi               : Mó đến chai tương lại phát phiền
 Anh Chương : Mực cạn dầu hao càng nhăn nhó
  Tôi                 : Tiền hết gạo không tưởng đến điên 
 Anh Chương : Chạy vạy làm sao qua thứ bảy
  Tôi                :   Đến chiều chủ nhật mới có tiền
   Bài thơ hoàn tất chúng tôi thấy vui vui . Bỗng nhiên bác chủ nhà là thày giáo từ thời Tây hỏi : Các cháu làm thơ gì vạy ?
 Tôi đáp lời bác chủ nhà :  Dạ thơ Đường ạ
  Bác nói tiếp : Tình , ý , Tứ  thì được , về liêm luật thì chưa ổn .
 Anh Chương im lặng ,  còn tôi chống chế : Thơ Đường theo kiểu học trò bác ạ ( thật ra lúc đó tôi nghĩ đây là bài thơ Đường hay) . Bác chủ nhà ôn tồn dạy bảo : Đã là thơ Đường tất phải giữ đúng liêm luật. Học trò lại cần phải giữ dúng phép tắc . Nay, còn là học trò liêm luật văn thơ đã vậy , mai sau Luật Đời sẽ sao đây . Ông nói tiếp : Cách ứng xử đôi khi quyết định thành công hay thất bại của một người trong cuộc sống . Cậu Chương sau này cuộc sống sẽ tốt hơn cậu .Vì biết lắng nghe nên không biện bạch . Cậu sẽ gặp nhiều trắc trở trong cuộc đời . Nếu như cậu không biết lắng nghe những lời từ người khác , cho dù đó là lời chê bai rất nghịch nhĩ . Cậu có biết không câu tôi hỏi là hỏi cậu Chương , người đề xướng họa thơ .Vả lại cậu Chương học trước cậu , lẽ thường là hiểu biết hơn cậu . Chương chưa kịp lên tiếng trả lời, cậu đã giành quyền “ nói hộ” cậu ấy . Lắng nghe để hoàn thiện mình , để cải thiện các mối quan hệ với người khác. Đừng bao giờ quên câu : “ Nói hay không bằng nghe giỏi ” . Sau đó ông thấp giọng như thì thầm  :  Cháu ơi, cuộc đời đầy gai chướng . Đâu có bằng phảng , đâu có  đơn giản như luật thơ Đường . Cháu hãy nhớ những gì bác nói hôm nay …Anh Chương lúc này mới lên tiếng : Cháu cảm ơn những lời dạy của bác . Còn tôi đứng lặng như “Từ Hải … ” . Kể cũng lạ sau buổi tối hôm ấy bác chủ nhà quan tâm tôi hơn , dạy tôi nhiều điều .Ông chẳng nói ra nhưng tôi cảm nhận được tình thương của ông cho tôi
    Ông giáo đã quy tiên vào ngày này ba mươi tám năm trước . Đêm nay tôi bày hương hoa , trái cây lên bàn thờ phụ thân . Cầm nhang trên tay,  lòng bồi hồi tôi khấn nguyện : Tâm Hương này con xin gửi đến vong Hồn phụ thân và bác Đào Văn Tiến , cầu mong hai người cha an lạc trong thế giới vĩnh hằng . Đã năm mươi tư năm . Lời dạy của bác , con vẫn mang theo trong đầu từ ngày ấy đến nay . Con coi đó là một phần hành trang không thể thiếu trên đường đời đầy bất trắc . Bác ơi , có lẽ do Vận Mệnh đẩy đưa, nên trước đây có những lúc rất quan trọng , quyết định cuộc đời cần nhớ lời dạy của bác để bình tâm ứng xử cho đúng thì con lại quên …

   Quy Nhơn đêm  05 tháng 11 năm 2012

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Nắng mới



Trong cái giá lạnh của Mùa Đông, vạn vật thu mình lại và diễn ra một cảnh Đông tàn. Người ta bảo, đó là vạn vật ngủ Đông. Nhưng rồi theo lẽ tuần hoàn, Đông qua cho mùa Xuân lại, đem theo về nắng mới.

Vạn vật đến Xuân thì bừng thức: Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, muông chim tưng bừng ca hót …Hòa cùng niềm vui đó, con người hớn hở đón chào chúa Xuân và nắng mới. Nắng mới đẹp lắm, người ta có nhiều chữ nghĩa để gọi tên nắng mới: Ánh thiều quang (Ngày Xuân con én đưa thoi / Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi (Thơ Kiều – Nguyễn Du), ánh dương quang, ánh hồng, nắng tươi, nắng vàng, nắng rực rỡ... Cái tên gọi nắng Xuân (vẫn đồng nghĩa với nắng mới) để đi cùng với gió Xuân (Xuân phong, Đông phong) sông Xuân (Xuân giang) núi Xuân (Xuân sơn), tuổi thanh xuân, ngày Xuân, đêm Xuân… Ngôn ngữ thời nay còn gọi nắng mới là nắng thủy tinh. Cái gì bền vững, trong suốt là thủy tinh, pha lê: Tình yêu đạt đến mức bền vững, trong suốt là tình yêu pha lê, thủy tinh. Nắng mới làm cho màu sắc thắm tươi, hương ngạt ngào, cho thiếu nữ má hồng môi thắm, cho những cụ bà “Nụ cười đen nhánh sau tay áo” (thơ Lưu Trọng Lư)… Hơn thế, người ta còn cảm nhận ở nắng mới bao điều cô lẻ, nhớ nhung mà sâu xa, huyền diệu hơn: “Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng / Có ai tiễn biệt nơi xa ấy / Xui bước chân đây cũng ngại ngùng… “ (Huy Cận).

Thời tuổi thơ của mình, tôi có nhiều kỷ niệm với nắng mới, những kỷ niệm mãi vương vấn trong tôi. Đó là ngày tôi được nhìn thấy ba tôi từ bỏ chiếc áo tơi chiếu nặng nề, sũng nước mà người vẫn mang đi làm đồng ngày mưa bay gió vãi, nước lũ ngập trắng đồng. Đó là một buổi sáng, tôi được nhìn thấy má tôi đem chiếc mền bông gòn thủng nhiều lỗ (vì sự cháy leo của chậu lửa sưởi ấm đêm đêm đặt ở gầm giường) ra phơi trước nắng. Má bảo, trông cho nắng tốt, mền mau khô, đặng tối, lũ anh em chúng tôi có mà đắp, bởi vì vẫn còn cái rét muộn. Rồi những giàn bầu bí trong sân nở hoa vàng rực, rủ rê ong bướm bay về, dệt nên một cảnh đẹp làm lòng tôi sướng vui. Tôi nhớ hình bóng những cô gái quê ngồi bên giếng khơi, gội đầu bằng nước hương nhu dưới màu nắng ban mai ấm áp mà rực rỡ. Tôi còn nhớ như in, kỷ niệm được mặc quần áo mới, được đeo cặp sách mới đến trường trong ngày đầu năm mà ở đâu cũng tràn ngập một màu nắng vàng tươi. Vẫn chưa phai mờ cảm giác mát thịt mát da mỗi khi được tắm mát dòng sông quê lấp lánh màu nắng Xuân; cảm giác dịu êm nơi đôi bàn chân những hôm đi dạo trên những thảm cỏ xanh trải rộng dưới nắng vàng trên những ngọn đồi úp bát quanh vùng thành Hoàng Đế…Dưới nắng mới, lũ nhỏ trong cái xóm vẫn hàng ngày nghe thập thình tiếng chày giã gạo của những nhà hàng xáo, thường rủ nhau kéo ra đồng làng, bày đủ thứ trò chơi: Đào đất sét bờ sông nặn tu hú đem phơi nắng, ném thia lia trên mặt những ao sâu, hái cỏ chỉ, cỏ gà chơi đá gà, thắt bầy trâu, đàn nai, xếp hình để đọ sừng, đọ gạc…ăn thua với nhau.  Chao ôi, làm sao tôi kể hết những kỷ niệm êm đềm mà khó quên của thời thơ ấu mình được sống ở quê và được vui cùng nắng mới. Có thể nói, nắng mới và quê nhà vùng Phủ An là niềm hạnh phúc của tuổi thơ tôi. Chúng lặng lẽ để lại trong tôi một tình yêu dấu, những kỷ niệm êm đềm về một vùng quê cha đất tổ.

Từ bao năm nay, tôi sống ở thành phố. Dù cuộc kiếm sống ở đây bắt tôi phải luôn tất bật, nhưng bao giờ cũng vậy, sau buổi Đông tàn, lòng tôi vẫn rạo rực một tình cảm đón Xuân và nắng mới về. Rồi có một ngày, nắng mới lên. Từ hôm đó, hồn tôi như bao giờ cũng bỏ ngỏ để xao xuyến cùng với gió Đông, với sông Xuân, với màu nắng mới nơi tà áo nữ sinh mà tôi đã cho là đôi cánh thiên thần trong các pho truyện cổ tích. Tôi cũng xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi màu áo của các anh công nhân đang lao động hết mình vì sự nghiệp dựng xây cuộc sống mới. Tôi thực tình xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi các công viên xanh mà người ta vẫn bảo, đó là những lá phổi của thành phố đang phấn đấu trở thành một thành phố xanh – sạch – đẹp.
Tôi đã thật no nê chưa với cái thú vui cùng nắng mới nơi thành phố mà tôi đang cư trú?
Nhưng dù cho có ra sao, lòng tôi vẫn không khỏi hoài nhớ cái nắng mới của một vùng quê dưới chân thành Hoàng Đế. Nơi vùng quê đó, mùa Xuân và nắng mới bao giờ cũng huy hoàng rực rỡ, bầu trời cứ cao xanh cho muôn chim én bay về, mặt đất trải một màu xanh bao la rợn ngợp, và hồn người thì chất chứa bao niềm tươi vui, hoan hỷ. 

Thứ Bảy, 1 tháng 12, 2012

THƯ MỜI

Tập san Văn Học Nghệ Thuật QUÁN VĂN
Trân trọng kính mời các cộng tác viên, bạn văn, thân hữu và đọc giả
Vui lòng đến tham dự buổi giao lưu thân mật.
Lúc 9 giờ sáng Chủ nhật 02/12/2012
Tại Nhà hàng Sông Trăng
233A, Bình Quới, P. 28, Q. Bình Thạnh
Hân hạnh được đón tiếp quí vị.
Thay mặt Ban Tổ Chức
Nguyên Minh

Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

 NGƯỜI GÕ CỬA MÙA THU

truyện ngắn của Nguyễn Thanh Hiện


Tranh chưa đặt tên - Nguyễn Hoài Nam



viết tặng người đã cho ta một
khoảnh  trời văn chương thanh khiết
 


Vào cái đêm mùa thu chết lịm những ký ức về những tháng năm chưa kịp xưa cũ, em đã đến gõ cửa nhà ta. Ở làng Cù ta, vào những đêm thu buồn như thế, con giun con dế nơi bờ rào cũng muốn nói lên lời tâm sự. Mà đang có ai hát trên đồng làng. Như là bạn của ta. Thằng bạn nối khố của ta.


Hay lại đang vỡ vụn một vùng ký ức. Bi thương. Và lạc lõng. Từng ngày đi nhặt nhãnh  bi thương và lạc lõng. Em đã đến gõ cửa nhà ta đúng vào lúc đang vỡ vụn những ký ức bi thương. Cũng vào một đêm mùa thu, lũ dế gọi mùa khản  cổ nơi bờ rào, thằng bạn nối khố của ta đã hát về những thứ khác với niềm vui. Hát về những thứ ở phía bên kia tồn tại. Những thứ ở phía bên kia sự vĩnh hằng.

Hai Bài Kệ Của Không Lộ Thiền Sư


tác giả Phạm Thảo Nguyên

Thiền sư Không Lộ họ Dương, không rõ tên thực là gì quê ở làng Hải Thanh, Nam Định. Ông cha chuyên nghề chài lưới, đến đời sư mới bỏ nghề ấy đi tu đạo Phật. Theo truyền thuyết ngài giỏi pháp thuật, và có biệt tài về xây dựng. Các tác phẩm của sư để lại cho chúng ta là những chùa chiền xây cất tráng lệ kỳ vĩ, đánh dấu sự thành tựu về nghệ thuật kiến trúc đời Lý. Ta có thể kể những chùa cổ đẹp nhất nước, do sư xây dựng toàn bằng gỗ không một cái đinh, cả nghìn năm nay vẫn còn làm chúng ta ngưỡng mộ như:
Chùa Cổ Lễ cao ngất hoành tráng tại Nam Định và chùa Nghiêm Quang, sau đổi ra là Thần Quang, hay chùa Keo, tại Giao Thuỷ, Nam Định. Chùa Keo đã bị bão tàn phá năm 1611. Vào thế kỷ thứ 17 dân làng Keo di dân tới hai bờ sông Hồng, xây lên hai chùa, một với gác chuông đẹp lạ lùng ở làng Nghĩa Dũng, Vũ Thư, Thái Bình (tả ngạn sông), và một phó bản rất xinh xắn ở làng Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định (hữu ngạn). Hai chùa cùng được gọi là chùa Keo, được xây dựng theo cùng mẫu chùa chính gốc tại Giao Thuỷ.
Sư mất năm 1119, để lại cho chúng ta hai bài kệ bằng chữ Hán là Ngôn Hoài và Ngư Nhàn. Bài thứ nhất có rất nhiều bản dịch của nhiều vị túc nho từ xưa tới nay. Tôi thích nhất bản của thiền sư Nhất Hạnh, với lời bình: “Một thi hứng rất siêu thoát, ít thấy trong thi ca”. Tôi xin chép lại dưới đây bài kệ và bài thơ dịch Ngôn Hoài:


言 懷

tho-1
Trạch đắc long xà địa khả cư
Dã tình chung nhật lạc vô dư
Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh
Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư
Bản dịch của thiền sư Nhất Hạnh
Ký tên Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo
Sử Luận, Saigon, nxb Lá Bối 1973.
Chọn nơi địa thế đẹp sông hồ
Vui thú tình quê quen sớm trưa
Có lúc trèo lên đầu chóp núi
Kêu dài một tiếng lạnh hư vô.
Hoà thượng Thích Thanh Từ trong cuốn Thiền Sư Việt Nam giảng giải như sau: Câu chót nói lên cái phi thường của người đạt đạo ở núi rừng. Kêu dài một tiếng mà lạnh cả bầu trời. Ý ngài nói chỗ núi rừng vắng vẻ rất thích hợp với người tu, khi lên chóp núi tĩnh tu, đạo lực đầy đủ rồi thì làm kinh động cả trời đất, hay nói cách khác là cảm ứng cả trời đất

*

Bài kệ thứ hai Ngư Nhàn, không may mắn như bài trước, được rất ít người dịch, và bản dịch thường không nói lên được ý thiền ẩn trong đó. Có lẽ một phần vì bài chữ Hán quá cô đọng, nhiều chữ Việt Hán, dễ hiểu, dễ dịch. Nhưng đọc bài dịch xong, người đọc không thấy sâu hơn những dòng chữ đó. Vì thực sự, đây là một bài thơ viết theo “nghệ thuật sắp đặt”(!). Những nhóm chữ đặt bên cạnh nhau, không một chữ giải thích sự liên hệ. Người đọc ai cũng có thể hiểu theo ý riêng của mình.
Dưới đây chúng tôi mạo muội đưa ra một vài ý nghĩ về bài thơ và một bài dịch mới:

    Ngư Nhàn: 漁 閒

tho-2
Vạn lý thanh giang, vạn lý thiên
Nhất thôn tang giá nhất thôn yên
Ngư ông thuỳ trước vô nhân hoán
Quá ngọ, tỉnh lai, tuyết mãn thuyền.
Dịch nghĩa:

Ông chài nhàn

Vạn dậm sông trong, vạn dậm trời
Một làng dâu gai một làng khói
Ông chài mê ngủ, không có ai gọi ồn ào
Qua giờ ngọ, (qua buổi trưa), tỉnh dậy, tuyết đầy cả thuyền.
Trước hết, để tìm hiểu ý bài thơ này, ta hãy đọc mấy câu thơ sau của vua Trần Thái Tông, một thiền gia rất thâm sâu thuộc thế kỷ thứ 13, sau thiền sư Không Lộ gần hai thế kỷ, và bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh:
Thiên giang hữu thuỷ thiên giang nguyệt
Vạn lý vô vân vạn lý thiên

(Sông nào có nước, có trăng soi
Dậm trời nào mây vắng, dậm trời ấy xanh (màu da trời))
Áp dụng “công thức” này vào bài thơ Ngôn Hoài, nghĩa câu đầu là:
Bất cứ sông nào có nước trong thì có bóng trời mây in vào đó.
Đó chính là một chiêm nghiệm của câu “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu” (Mặt đất của tâm nếu không bị ngăn che, thì mặt trời trí tuệ tự nhiên soi đến ), của tổ Bách Trượng, rất nổi tiếng trong thiền môn..Thiền sư Vô Ngôn Thông đạt đạo nơi câu này.
Từ đây ta có thể tạm dịch nghĩa bài Ngư Nhàn:
Câu 1 : Sông trong, dài vạn dậm, có hình bóng vạn dậm trời in xuống.
Câu 2 : (Trái lại) Làng trồng dâu, trồng gai thì khói lan mờ che phủ hết cả làng.
Câu 3 : Làng quê im vắng, không tiếng người gọi, ông chài ngủ yên. (có vẻ như ông chài đã đổi sang nghề lái đò giúp người qua sông), “không người gọi” nghĩa là không có khách gọi đò.
Câu 4: Quá trưa, ông chợt tỉnh dậy, ngỡ ngàng thấy nắng chiếu chói loà như tuyết đầy thuyền.
Vậy rõ là không thể dùng bẩy chữ để dịch, để diễn giải đủ nghĩa cúa mỗi câu của bài kệ này, cho nên, tôi… chạy sang lục bát!!

Ông Chài Nhàn

Sông trong, vạn dậm sông trong
In nguyên vạn dậm trời lồng nước mây
Ruộng dâu, gai mọc xóm này
Mịt mù một xóm tràn đầy khói lam
Vắng im không tiếng người vang
Ông chài say giấc ngủ an lặng tờ
Ngọ qua, chợt tỉnh giấc trưa
Ơ kìa! trắng xoá tuyết mơ đầy thuyền.
Ông chài này là thiền sư, trước kia là ông chài sau đã đi tu, ông không đi câu cá nữa mà đang nằm ngủ (chờ khách gọi đò). Tâm ông thanh tịnh như sông trong, làm gì ông không thấy được “tuệ nhật tự chiếu” như tuyết trắng đầy thuyền?
(nguồn: dien dan)

Thứ Tư, 28 tháng 11, 2012

Nguyễn Thanh Hiện
lửa. 



J.Dubuffet - Psycho - Sites

Theo lời người coi rừng thì chắc chắn mạch nước đầu nguồn của con suối là nằm ở bên dưới mặt đất của rừng núi ấy ( nhà nước đã xếp vùng núi rừng này vào loại núi rừng đầu nguồn là lời ông ta) Không được tận mắt nhìn thấy con nước đầu nguồn thì cứ bước đi trên đất mạch đầu nguồn cũng là vui lắm rồi. Tôi và nàng đã đồng ý với nhau như thế.


Nguyễn Thanh Hiện

cái cách chép về sông núi

Salvador Dali -
Four dreams of Paradise - Romantic
 



ta muốn chép về sông núi ở làng Cù
nên đã đến hỏi ông Hai
người được coi như cuốn bách khoa sống của làng
như muốn chép về sông núi làng ta thì chép những gì
ông Hai bách khoa liền chỉ vào  quãng không trước mặt
trời đất vốn hư không
khi thấy núi thấy sông là theo cái cách thấy của con người
cuốn bách khoa sống của làng nói xong thì nhìn ta như thể dò xem ta có đồng tình với cái cách nhìn ấy hay không 
ta nói làng ta có núi Trồi núi Sụt
mưa hay nắng cũng có vẻ trần trụi và buồn bã  như kẻ không nhà
ông Hai nói thì cứ chép về những kẻ không nhà
người ta ắt sẽ hiểu đấy là núi Trồi núi Sụt


Lời phân ưu
Hay tin cụ Ông FAUSTO PUCILLO qua đời tại MILANO – ITALIA sau thời gian bị bệnh nặng, xin gởi đến hai bạn: nhà văn, tiến sĩ ELENA PUCILLO TRUONG và nhà văn TRƯƠNG VĂN DÂN (con gái và con rể của cụ Ông đang sống ở Sài Gòn) lời chia buồn sâu xa và lời cầu nguyện Hương linh được về miền Tiên cảnh.
Thành kính,

TM. Gia đình, HUỲNH KIM BỬU  

Thứ Sáu, 23 tháng 11, 2012


Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


ăn cháo lươn,
tản mạn nghề bắt lươn




 Ở Quy Nhơn bây giờ, mọc dày những quán cháo lươn, miến lươn trên các đường phố. Món này phục vụ ăn sáng cho mọi giới: dân sành ăn, dân “cựu” gốc rạ ra phố chưa quên hương vị đồng quê. Lại không như phở, bún, món cháo lươn bình dân (10. 000đ / bát ngon miệng, chưa có bánh tráng). 
Một sáng Chủ nhật, bạn đã vào một quán cháo lươn đang đông khách. Vì đông khách, cho nên chắc là quán ngon. Một bát cháo lươn đã được đặt ở trước mặt bạn. Nhìn, bạn đã thấy ngon: Bát cháo vàng tươm, đậm đặc, váng trên mặt những sợi thịt lươn (lớn bằng sợi phở hoặc gấp đôi sợi phở tươi), mùi thơm lựng từ bát cháo bốc lên mũi bạn … Xung quanh bát cháo đặt thẩu con bột nghệ dẻo, thẩu con riềng xắt lát, đĩa con nước mắm trong - nổi mấy lát ớt chín đỏ - một đĩa con nữa đựng những lát chanh tươi… Bạn hãy nêm thêm các thứ đó, rồi trộn đều bát cháo mới ăn. Chủ quán vừa đặt thêm vào bàn đĩa bánh tráng bẻ làm tư cho gọn. Không ăn vội, ăn tới đâu, bạn bẻ bánh tráng giòn giòn thơm thơm tới đó. Bạn hãy nhìn xem, thực khách xung quanh bạn cũng ăn như thế. Họ ăn chăm chỉ, vì cái ngon đang thu hút đầu óc họ. Chắc là bạn cũng như họ, nhưng có thể bạn còn nghe thêm một chút xa xăm: Hương vị đậm đà, khá quen thuộc của bát cháo lươn ngày xưa mẹ vẫn nấu cho mình ăn?
  
Trong đồng ruộng, mương lạch ngày trước đây, con lươn có nhiều lắm. Nhưng nay ít rồi, vì lươn chịu chung số phận với con cua, con cá ngoài đồng: Không sống nổi với thuốc trừ sâu, phân hóa học của các bác nông dân cầu miếng cơm ăn mà quên con cá, con lươn – mấy đời vẫn có mặt trong mâm cơm của mình. Ngày nay, người ta bắt lươn ở các đầm, vũng lớn hoặc đào hồ trong vườn nhà mà nuôi, cho ăn thực phẩm.
Lươn mình trơn, thân to bằng cuốn lá đu đủ, thon đều, dài bốn – năm tấc, đầu chai cứng, giỏi dụi bùn, chuyên đào đất làm (hang) ở: “Thân lươn bao quản lấm đầu” (Truyện Kiều – Nguyễn Du).
Cái trúm là dụng cụ lợi hại nhất đối với con lươn. Có hai loại trúm: Trúm nan tre và trúm ống tre. Trúm đan nan tre hình quả chùy (ta thấy trong sân thể thao) đầu bầu trúm có toi, đầu thon là miệng trúm, có nắp đậy. Trúm ống tre là một đoạn thân tre già 2 mắt. Một đầu làm miệng trúm, lấy mắt làm nắp đậy, đục bỏ mắt giữa cho thông nhau; đầu còn lại bỏ mắt, lắp toi. Loại dụng cụ trúm nào cũng có hai thanh tre dài, chắc chắn đâm xuyên qua trúm, để vừa giữ cố định cho toi trúm, miệng trúm, lại cũng để khi đi dắt trúm, hai thanh tre ghim chặt trúm vào bờ ruộng, bờ mương. Trong lòng trúm, đựng mồi. Mồi là những xác trùn, xác cua đồng ủ ươn, tanh. Sau khi đã chuẩn bị cho “cuộc” đánh trúm xong (đủ mồi nhử, kiểm tra lại thân trúm, miệng trúm, toi trúm) dân đánh trúm đợi chiều xẩm đến, “làm gánh”, gánh trúm đi ra đồng. Họ thường đi từng đoàn 4 – 5 người. Khi đi trên đường làng, ngõ xóm, người gánh trúm vừa đi vừa thả mùi tanh lại nơi cuối ngọn gió, khiến người ta quở, bịt mũi. Những nơi họ gánh trúm đến là đồng, vũng, mương lạch, những nơi có độ bùn dày, lùng lác rậm rạp cho trúm ở và dễ kiếm con mồi ăn. Thường mỗi bữa dắt trúm xong, đêm hết canh một, họ kéo nhau về, kể chuyện gặp ma đuốc, ma cà rồng cho vợ con nghe, vui. Rồi đi ngủ, cho kịp sáng hôm sau thức dậy sớm, đi giở trúm. Bữa gặp hên, trúm nào cũng giở lên nặng trịch, lươn vắt cục trong bụng trúm; trái lại, không ít bữa “đói”, đi có về không.

Sau đánh trúm, đến câu lươn. Câu lươn là cách làm ăn tùy hứng, không “nghề” như đánh trúm. Đang trưa hè, trời nắng chang chang, anh nông dân trẻ muốn cải thiện bữa ăn, bèn vác cuốc ra vườn đào mấy con trùn, gói theo, rồi đội nón mê, cầm “cần” câu, đi câu lươn. Phải câu lươn vào giữa trưa, nắng gắt, vì đây là lúc lươn sợ nắng chui vào , tìm mát. Người giỏi, đi câu một buổi, thả câu mười mà, kiếm được mười con lươn lớn nhỏ. Dụng cụ câu lươn là lưỡi câu uốn khớp miệng lươn. Lưỡi câu được cột chặt với một đầu sợi dây gai xe săn, lớn bằng thân cây kim đan len, dài chừng 1 thước. Đầu kia sợi dây, cho tay cầm. Người câu lươn đi dọc bờ ruộng, tìm . Gặp chỗ miệng có sủi bọt (do lươn thở) dừng lại, thả câu. Ngồi với tư thế 1 chân bờ, 1 chân ruộng, tay xoăn xoăn sợi dây câu đã móc mồi (một khúc trùn) đằng lưỡi câu, để đưa dây câu vào sâu trong mà. Lươn nghe động và mùi tanh thì há miệng bập, nuốt ực cả mồi và lưỡi câu vào bụng. Bị đau, biết bị tấn công, lươn chui sâu vào “thủ thế”, gây nên sự trì níu với anh đi câu. Người câu lươn lập tức kéo sợi dây câu ra khỏi mà, giơ cao lên, thân lươn vặn lại như cái mũi khoan, cái lò xo, tòong teng dưới lưỡi câu. Anh ta lấy ba ngón tay giữa ngoéo chặt lươn, cho vào đụt. Trong trường hợp, nghi rằng lươn “ngủ”, không nghe thấy mồi đến miệng, anh lấy ngón tay bật bật nước, đánh thức lươn dậy mà ăn mồi.
Gặp con lươn “khôn” không chịu ăn mồi để khỏi mắc câu, người ta đào bờ ruộng ra mà bắt lươn trong mà. Lươn không thoát khỏi, nhưng bờ ruộng bị vỡ ra. Người câu lươn đào bờ ruộng nhà, không can; chứ đào bờ ruộng người khác, hãy coi chừng “ăn” cán cuốc của ông chủ ruộng đến bất thình lình.  
Mùa mưa lụt, nước tràn đồng, nhiều tay vác rổ xúc ra đồng xúc cua. Nhiều mẻ, kéo lên được cả cua, lẩn cá, lươn…
Bắt lươn không dễ, vì lươn khá mạnh và thân lươn trơn cực kỳ. Dân “thiện nghệ” bắt lươn bằng ba ngón tay: Giữa – trỏ - áp út. Phát hiện con lươn đang dụi bùn đó, người ta dùng bàn tay chộp lấy, rồi lập tức kẹp giữa thân nó bằng 3 ngón tay, dùng ngón giữa ngoéo chặt, khóa lại, làm cho thân lươn in hình bị gãy đôi: đầu lươn chóc lên cao chới với, đuôi lươn ngo ngoe, yếu ớt, như bị tê liệt hẳn, không còn nữa sức mạnh vốn có của nó. Lươn bây giờ chỉ còn chui vào đụt.

Bà nội trợ giỏi, chế biến được nhiều món lươn ngon: Cháo lươn, miến lươn, lươn um…Ở Bình Định, món lươn um dầu, hành, tiêu bắp chuối chát thái nhỏ, trái chuối chát xắt lát dày kèm lá ngổ, đỗ phộng hạt rang chín …Um cho tới khi mở nắp vung ra nghe thơm ngát, sực nức mũi, thế là được món ngon trong cỗ giỗ nhà giàu, bên cạnh món gà hầm, cá ám, vịt tiềm.
Thịt lươn chứa nhiều loại vitamin và chất khoáng, như vitamin A, B1, B6, sắt, natri, kali, calci. Sách Đông y mách: Ăn thịt lươn có tác dụng bồi bổ khí huyết, tiêu trừ phong thấp, có thể chữa được bệnh suy dinh dưỡng… Với đặc tính bồi dưỡng và sinh khí huyết, máu lươn có tác dụng giúp lưu thông máu huyết, tăng cường dương khí, khả năng tình dục…
Cùng “gia tộc” với lươn, có chình. Ai về Bình Định, ghé ra Phù Mỹ sẽ được thưởng thức thịt chình và được nghe nói nhiều về chình Trà Ổ. Đầm này có loại chình mun, các nơi khác không có. Thịt chình mun ngon, chế biến được nhiều món: Chình nướng lá chanh, chình hấp, cháo chình…Món nào cũng tuyệt ngon, khiến du khách ăn rồi, không khỏi hẹn ngày trở lại. Chình bông cũng ngon nổi tiếng, có nhiều ở vùng đầm, hồ Kẻ Thử - Phù Cát.

Ở làng An Định, có xóm mang tên: xóm “Câu lươn”. Đây là một xóm nghèo. Hỏi tại sao? Người ta trả lời, bởi lươn nhớt, đồng tiền kiếm được từ lươn cứ tuột khỏi tay, không giữ được. Đàn ông ngày xưa thường mặc quần lưng bầu lươn (lưng quần may bản chừng 1 tấc). Tại sao gọi cái lưng quần to bản 1 tấc đó là lưng bầu lươn? Có phải vì, các cụ xưa cất các thứ vào cái lưng quần đó? Tờ bạc, tờ giấy nợ, thư từ…trải dọc, xe tròn như thân lươn, đút vô đó, chắc ăn hơn đút vô túi sợ bị trồi đi mất. Các cụ mình chơi “tiện lợi” còn hơn cả người thời nay, không phải mỗi cái quần bà ba kia có một dây lưng rút mà chỉ có một dây lưng rút chung cho hết thảy các cái quần. Dây lưng rút đó là một sợi dây trân hay dây mây (không dây vải, vì sợ nó thấm mồ hôi, thấm nước mục sớm) cột quanh bụng. Khi mặc, kéo quần lên, vắt lưng bầu lươn vào sợi dây cột sẵn đó, thế là mặc xong quần, an toàn, không sợ sút quần; có hứng tới, mặc thêm áo, cầm dù là đủ “lệ bộ” đi thăm sui gia, dự đám tiệc, cứ được. Trong dân gian cũng có thành ngữ “Trật bầu lươn” để nói về việc làm ăn gặp rủi, mà thất bại, nghèo khó. Thảm thay cho những người lấy câu “Thân lươn bao quản lấm đầu” mà than thân trách phận, biện hộ cho cảnh ngộ không may của mình. Mấy hôm nay, bác nông dân nọ câu được chục con lươn đang rộng trong chậu, sáng nay chợt nhớ ngày giỗ người bà con đến, bèn làm cái đụt bẹ chuối xanh tươi bẻ gập lại, đựng lươn, mang đi ăn giỗ.