Huỳnh Kim Bửu

.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2011

VĂN HOÁ - NGHỆ THUẬT
Người “vẽ” lại chân dung làng
21:47', 24/9/ 2011 (GMT+7)
Tình cờ được ông tặng cuốn sách “Trong như tiếng hạc bay qua”, tôi mới có điều kiện cảm nhận thêm về con người Huỳnh Kim Bửu, dù biết ông cũng đã lâu qua các tản văn, bút ký đăng trên báo…

Kiến thức Huỳnh Kim Bửu tích lũy được là nhờ đọc nhiều, tìm hiểu nhiều.

“Vẽ” làng quê bằng ký ức
Nhà văn Lê Hoài Lương đã nhìn nhận rất sắc sảo về Huỳnh Kim Bửu: “Có rất nhiều kiến văn và sống động lớp lớp ký ức về phong hóa, phong vị một vùng đất nhưng “Nơi con sông Côn chảy qua” không phải là một cuốn sách biên khảo… Mạch khơi tới đâu, dòng xưa gọi theo những gì quanh nó: giọng kể, tả, kèm những ca dao, tục ngữ, những câu thơ nổi tiếng đâu đó có trong trí nhớ của ông kịp lúc phù hợp ấy, tất cả cuốn ông miên man…”.
Huỳnh Kim Bửu tâm sự: “Kiến thức tôi có được là do không ngừng bồi đắp, tích lũy liên tục trong nhiều năm qua bằng việc đọc nhiều, tìm hiểu nhiều. Tôi chọn viết tản văn, bút ký vì yêu Nguyễn Tuân, Vũ Bằng, Thạch Lam, Tô Hoài… và cố gắng học hỏi, xây dựng cho mình một phong cách riêng”. Đọc hai tập tản văn, bút ký Nơi con sông Côn chảy qua (Nhà xuất bản trẻ - 2009) và Trong như tiếng hạc bay qua (Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2011) với tổng cộng gần 600 trang sách, hơn 100 câu chuyện kể, cảm nhận riêng đã “vẽ” nên một bức tranh làng quê đậm sắc màu cảm xúc bằng ký ức sống động về Làng, Đình làng, Chùa làng, Trong các làng quê xưa, Thị trấn trên đất kinh cũ… hay những lúc Ngồi buồn nhớ những rạ rơm, Thương nhớ chợ quê, Một nỗi niềm với nhà chữ Đinh, Một thoáng hương xưa, Thương về làng cũ, Nhớ Giếng.
Huỳnh Kim Bửu dành tình yêu đặc biệt cho con sông quê hương từ những năm tháng gắn bó, trân trọng để cảm nhận: “Chiều trên sông Côn có một vẻ đẹp riêng. Người đứng trên cầu Phụ Ngọc nhìn ra xung quanh thấy mặt trời đang lặn trên ngã ba sông; những hôm có ráng chiều màu nước sông Côn nhuộm màu ráng đỏ, rồi cái màu ráng đỏ cùng sông mà trôi đi biền biệt… Quê tôi không có sông Vu, đền Vũ Vu, nhưng có những người như Công Tôn Hoa ngày xưa, có cái thú đợi chiều về đi tắm mát sông Côn, hóng gió sông Côn, rồi hát nghêu ngao mà về..”. (Kỷ niệm chiều). Sông Côn chảy mãi trong tâm hồn Huỳnh Kim Bửu còn có hình những con người mưu sinh nơi dòng sông: “Mấy mươi năm rồi, tôi còn nhớ như in hình bóng lão Thận ngồi câu quẹt ở gần bến sông… Bữa nào cá nhiều, ăn không hết, chiều xẩm ông đem ra bến sông thả xuống gọi là “phóng sanh”, để rồi sáng hôm sau lại ra bến sông câu lại từng con một trong cảnh chim trời cá nước. Tôi nhớ ông như nhớ một con người kỳ lạ, có lòng từ tâm, còn chuyện đi câu chẳng qua là vì miếng ăn của ông bị thiếu…” (Những con sông quê ơi!).
Trong hai tập tản văn, bút ký của Huỳnh Kim Bửu có rất nhiều bài viết đặc sắc về ẩm thực Bình Định. Thật hết sức thú vị khi được Huỳnh Kim Bửu kể về văn hóa ẩm thực truyền thống: “Người Bình Định ứng xử theo “văn hóa bánh tráng”. Đi ăn giỗ, các bà, các thím vẫn mang theo vài ràng bánh tráng, cột chữ thập trong khăn xéo, làm vật phẩm dâng cúng. Ngồi trong cỗ giỗ, người bẻ bánh tráng chia phần phải đứng lên, đặt cái bánh tráng ngay ngắn trên đầu, rồi dùng hai tay bẻ bánh một cách cung kính, đặt lên từng chén ăn” (“Bánh tráng bẻ giòn giòn”). Cách “kể chuyện ăn” của Huỳnh Kim Bửu còn để lại cảm xúc khi chuyển tải những điều đậm tính nhân văn: “Ở vùng Phú An xưa, ai cũng nghe danh ông Hai Hạng ở đâu có giỗ thì đến, không đợi ai mời. Ông đến với khăn áo chỉnh tề, thưa rằng: “Hôm này ngày kỵ đấng sinh thành, tôi đến với đạo cháu con, để được lạy Tiên linh bốn lạy”. Nghe nói, ông Hai Hạng hay chữ mà bị “học tài thi phận” mà sinh điên chữ, bởi điên chữ nên được cả làng xã nuôi bằng cách cho ăn giỗ”. (Giỗ). 

Các tác phẩm tản văn, bút ký, thơ đã xuất bản của Huỳnh Kim Bửu.

Sợ “bạn đọc chờ”
Năm nay, Huỳnh Kim Bửu đã ở tuổi “thất thập” nhưng vẫn đều đặn mỗi ngày 8 tiếng làm việc trên máy tính. Đó là lý do ngoài ba tập tản văn, bút ký, thơ đã xuất bản, ông còn dự tính sẽ xuất bản thêm một tập tản văn, bút ký khoảng 300 trang sách nữa trong thời gian đến. “Già rồi nên cũng muốn nghỉ viết nhưng tưởng tượng bạn đọc của các báo quen thuộc chờ bài mình mà không thấy đâu… Thế là dù có mệt mỏi cũng cố gắng ngồi vào máy tính viết”, cụ Bửu bộc bạch.
Tôi hơi bất ngờ khi nghe cụ Bửu nói không muốn “bạn đọc chờ”, lại càng bất ngờ hơn khi được biết ông đã có hơn 100 bài văn, thơ đã được đăng trên khoảng… vài chục tờ báo, tạp chí ở địa phương và Trung ương, trong đó có những bài đã được đăng trên 10 tờ báo như Thiền trà, Vương vấn mùa sen, Đồng Trăng, Mẹ, Thôn nữ, Lão nông, Giỗ… Ấn tượng hơn là đã có 30 tờ báo đăng bài của ông trên số báo Xuân Tân Mão 2011, trong đó có tờ đăng tới 2 bài. Cuốn Trong như tiếng hạc bay qua của Huỳnh Kim Bửu vừa được đưa vào Thư viện quốc gia Việt Nam với từ khóa “Văn học hiện đại - Tiếng Việt - Tản văn”. Như vậy Huỳnh Kim Bửu đã và sẽ quảng bá văn hóa Bình Định đến một lượng độc giả rất lớn...
Lâu nay Huỳnh Kim Bửu thường chỉ được nhắc nhiều ở mảng bút ký, tản văn, nhưng nếu ai đã đọc tập thơ Mùa thu biết thở ra hương (Nhà xuất bản Hội Nhà văn – 2010) sẽ thấy được khả năng sáng tác thơ của ông. Đặc biệt bài thơ Mõ Sừng của Huỳnh Kim Bửu đã được thica.net xếp bên cạnh các bài thơ cùng một đề tài chiều của Hồ Dzếnh, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Đồng Đức Bốn… Nếu ai không tin hãy vào thica.net để cảm nhận: “Chiều - chim bay mỏi. Vật vã ngọn khói đồng. Nỗi niềm gửi hư không. Ngại chòm mây lữ thứ… Chầm chậm chiều. Mục đồng ngồi lưng trâu. Gõ niềm cô liêu. Vào mõ sừng.” (Mõ sừng). Riêng tôi cảm nhận rằng, tác phẩm của Huỳnh Kim Bửu trong văn có chất thơ và trong thơ có chất văn, điều này đã tạo nên một phong cách riêng cho người “vẽ” bức tranh làng quê đẹp sống động bằng sắc màu ký ức…
  • Hoài Thu
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 08:47 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Chân dung văn học

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

VĂN HOÁ - NGHỆ THUẬT
Huỳnh Kim Bửu kể chuyện làng
15:19', 22/9/ 2011 (GMT+7)
* Ký của Lê Hoài Lương
Trong bài “Phong vị một vùng đất” viết về cuốn sách “Nơi con sông Côn chảy qua” (NXB Trẻ, 2009) của Huỳnh Kim Bửu, tôi có gọi ông là người kể chuyện làng, người kể chuyện phong hóa phong vị một vùng đất, và khẳng định, “chuyện kể của ông còn dài”. Thì đúng là 2 năm sau, ông cho in cuốn sách tiếp theo “Trong như tiếng hạc bay qua” (NXB Hội Nhà Văn, 2011). Cũng đầy đặn và xinh xắn, cả số lượng “chuyện kể”, thêm nét duyên càng lúc càng đằm.

Nhà văn Huỳnh Kim Bửu.
Và khi cuốn sách mới này gửi đi in, ông vẫn “kể” không ngừng, vẫn in đều đều trên các diễn đàn, tới giờ cũng đã hòm hòm một cuốn sách nữa. Ở mảng này, trên nhiều báo, tạp chí, và trong công chúng, Huỳnh Kim Bửu đã thực sự là một “thương hiệu”.
1.
Thương hiệu của ông là tự nó, tự những câu chuyện đến với bạn đọc. Nó đến từ từ, theo cái cách chơn chất, lành hiền, tỉ mỉ, và giọng kể điềm đạm, thủ thỉ nhẹ nhàng, rặt chất Bình Định. Ông làm ta cứ thỉnh thoảng ồ lên, hoặc gật gù tán thưởng những chi tiết đời sống nông thôn đã xa giờ được nhắc lại, chúng ta thưởng thức và hồi tưởng vì các chi tiết sống động này hầu khắp chúng ta đã trải, thuở làng chưa xa mà giờ thành xưa lắm, vì có thể nói phần lớn đã không còn nữa.
Ông có nhiều đồng cảm vì phần lớn chúng ta thị dân nay, gót chân vẫn còn nồng mùi bùn đất, cái móng chân còn sánh vàng phèn. Và cái chính là cách kể chuyện của ông. Dụng công của ông gọn lỏn có một tiếng: thật! Thật đến mức ta thấy ngay cảnh sinh hoạt ấy, món ăn, trò chơi, không gian cảnh sắc, không khí  ấy…, và khi ông ngừng kể ta mới vẩn vơ nuối tiếc khi nhận ra rằng, cảnh và người quen thuộc ấy đã xa.
2.
Đề tài làng của Huỳnh Kim Bửu phong phú đến ngạc nhiên. Đó là những trò chơi, những thú vui con trẻ, những sinh hoạt, tập tục quanh nếp nhà nông thôn, những sản vật, những danh thắng, những mảng văn hóa, lịch sử lớn của miền đất võ, đất hát bội, đất văn chương Bình Định.
Tất nhiên là từ bối cảnh quanh cáo xóm Miễu Tây, cái làng An Định, Nhơn An quê ông, và làng quê quanh thành xưa Bình Định, đế đô mấy vương triều. Tất thảy gắn cụ thể với tên đất tên người vì là kể chuyện người thật việc thật, chứ chuyện “làng” của Huỳnh Kim Bửu còn mang nét chung vùng nam Trung bộ. Ngay cả tên người thật cũng không phải nhắc tên cho chuyện ra vẻ thật, những bà Hai Cảnh, ông năm Rự, ông Tú kép Bình An, ông Hương hào Nhuệ, ông Cử nhì Thái Thuận, thầy Tú Kỉnh, ông Tư Đồ, ông Ba Thơm…, những bà những ông này luôn gắn với một phần máu thịt hồn cốt nào đó của ký ức làng, người dạy học, người giỏi kể chuyện đời xưa, người làm món ăn nổi tiếng, người hát hay, võ giỏi, nói rốt lại, phần đông họ đã là người của muôn năm cũ, họ đã là làng, vừa bàng bạc khói sương vừa vọng động.


Và một người nữa, nhân vật kể chuyện. Lúc ở vai thứ nhất, xưng “tôi” để kể, lúc ở ngôi thứ hai, gọi là “chú”, chú nhỏ, là tác giả của thuở lên mười, mười lăm. Huỳnh Kim Bửu đã, đang làm công việc của nhân vật ông Tư Đồ kể chuyện cho trẻ nhỏ quanh vùng, và vì vậy, tác giả- người kể chuyện- nhân vật, hòa vào nhau, tất cả cứ hiện lên, khi tách bạch khi nhập nhòa nhưng thật tự nhiên, như không thể khác. Có lẽ điều này cũng góp phần làm nên sức thuyết phục, làm nên cái duyên riêng của người kể chuyện làng.
3.
Đọc Huỳnh Kim Bửu một cách tập trung thấy các câu chuyện đến với ông như một tình cờ, như một gợi ý vô tình nào đó và ông chợt nhớ ra, rồi kể. Có khi từ một ý thơ, một câu thơ của các thi sĩ nổi tiếng mọi thời. Từ ca dao, dân ca. Có khi từ một câu nói, một trò chơi con trẻ. Một món ăn, một phút chuyển mùa. Nhưng tất cả phải gắn với làng xưa. Tất cả đã và đang mất đi, tất cả vọng lên đẹp và buồn.
Kể chuyện làng, Huỳnh Kim Bửu đã chạm thấu tới vẻ đẹp ánh tà huy hoài niệm, bởi vì, như một thứ nguồn cội dù biết khó thể níu giữ trong đời sống thực hiện nay, việc kể lại chuyện làng theo cái cách của ông là một kiểu lưu giữ và trân trọng, nâng niu. Nó thành một miền riêng lặng lẽ nuôi dưỡng hồn người, không hẳn “vãng cổ khả dĩ tri kim” theo kinh sách thánh hiền, nó là thương và nhớ một thuở cha ông. Là văn hóa.
Bài nào, chuyện kể nào của Huỳnh Kim Bửu, ngoài nội dung kể chính cũng có hoặc những câu ca dao, dân ca, thành ngữ tục ngữ hay các câu thơ của những nhà thơ nổi tiếng đã in đậm trong trí nhớ ông được trưng kèm, như minh họa, như liên tưởng. Từ hai cuốn sách đã kể, thử giở bất kỳ, thấy trang nào cũng có những câu in nghiêng các thể loại ấy, nó xuất hiện với tần suất thật đậm đặc. Nó là một sự phối hợp tốt, câu chuyện thoảng ngắt quãng thêm chút mơ màng, phần minh họa- liên tưởng này nếu tách bạch thì cũng làm nên nét riêng khi kể chuyện. Thực ra nó không hề làm hư ảo chuyện cho thêm gia vị, nó cũng là nội dung, cũng là làng. Nó xuất hiện vừa gợi ý vừa hiển nhiên, và chắc rằng nó đã thành ký ức, thành máu thịt của người kể chuyện.
4.
Tiếp xúc, nói chuyện thấy Huỳnh Kim Bửu là người có trí nhớ rất tốt, kiến văn rộng, nhất là mảng văn hóa Đông phương, mảng phong hóa làng nam Trung bộ, làng quê Bình Định. Nên ông không làm công việc một nhà sưu khảo phong hóa, không kỳ khu tra cứu, biện luận, chỉ kể, nhiều khi cũng rất tỉ mỉ và nhiều xúc cảm, nhưng là kể. Ví dụ viết về món ăn, món bánh xèo chẳng hạn, cũng mô tả các loại bánh xèo, cách đúc cách ăn, nhưng “Đông… ăn bánh xèo’’ không thiên về bài viết ẩm thực, ông kể chuyện nhà bà hai Ngót cha con chồng vợ quây quần bên tiệc bánh xèo xúm xít vừa đúc vừa ăn trong không khí gia đình thật ấm nồng.
Từ ý thơ người trước “thu ăn măng trúc đông ăn giá’’, chuyện ăn bánh xèo mùa đông của làng quê Huỳnh Kim Bửu đã là chuyện làng. ‘‘Khách thăm quê tôi dịp tiết trời Đông dễ gặp những xóm nhà phủ cơn mưa, tỏa xực nức mùi thơm bánh xèo lên không trung, dễ gặp bữa cỗ bánh xèo được chủ nhà mời ăn với cả tấm lòng xởi lởi và hiếu khách’’, và, ‘‘Nhà đúc bánh xèo luôn dành những phần bánh xèo để biếu hàng xóm, “lại quả’’ nhà kia nhà nọ vì họ đã cho mượn bộ khuôn sắt hãy còn bóng dầu mỡ, cái hỏa lò hãy còn dính nhiều vệt trắng của bột bánh xèo đổ leo, và cả ông đầu xóm có cái cối đá xay bột khô và bột nước đã sẵn lòng dành cho một bữa xay bột nhờ… Thành ra lắm khi trong xóm miễu Tây của tôi một nhà đúc bánh xèo thôi là cả xóm được ăn bánh xèo.’’
Như đã nói, Huỳnh Kim Bửu không thích tư biện, chỉ thường bộc lộ cảm xúc, những u hoài có phần nuối tiếc những vẻ đẹp đã và đang dần lui vào quá vãng.  Sự nuối tiếc và trân quý những hồn cốt làng khiến ông đôi khi có những liên tưởng độc đáo. Ví dụ, bài viết về các trò chơi con trẻ ngày xưa, các trò chơi đồ chơi thường tự tạo, sau khi kể tỉ mỉ các nhóm đồ chơi: nhóm tạo tiếng, nhóm nặn tượng, nhóm cơ khí, nhóm ngẫu hứng, nhóm nào cũng thật nhiều sáng tạo thú vị, đòi hỏi sự khéo léo và nhiều trí tưởng tượng, ông kết chuyện thật bất ngờ: ‘‘Xưa ông cha và cả thế hệ chúng tôi (nay đã đầu hai thứ tóc) sống tuổi thơ của mình thiếu thốn, nghèo nàn, lây lất quá! Chẳng biết đầu óc của những ông Hai Lúa nổi tiếng thời nay có phải được sinh ra và nuôi dưỡng từ hồi xửa hồi xưa đó không?’’ (Bài ‘‘Trong như tiếng hạc bay qua’’)
5.
Huỳnh Kim Bửu còn là người khá tinh tế trong lựa chọn chi tiết kể. Ví dụ, kể ‘‘Mùi đồng’’, ông kể đủ các mùi bùn, đất, mùi phân trâu bò, mùi bông lúa chín ngập đồng, mùi hương sen ngát…, lại nữa, mùi chua loét mồ hôi của những bác nông phu, mùi hăng hăng rạ rơm cũ nát, mùi khói đốt đồng, những nền đất ẩm mốc, mùi phân đang hoai, và mùi tóc mẹ, tóc chị thơm dầu xức, thơm bồ kết, hương chanh hương bưởi…, rồi các thứ hương hoa, cây trái bốn mùa…, đặc biệt, thật hóm hỉnh, ông kể cái mùi đám giỗ, nó “thơm phức, nồng nàn, ngào ngạt, lan tỏa từ nhà bếp, lên nhà trên, sang tận các nhà hàng xóm, quyện lâu vào mũi những ông bà hàng xóm láng giềng và gieo vào họ một tâm trạng’’ bâng khuâng chờ đợi; ‘‘Nghe như có đám giỗ gần/ Bụng dạ lần khần, chẳng muốn nấu cơm’’ ca dao. Bởi đó, trong xóm Miễu Tây của tôi, một nhà có đám giỗ là cả xóm đều biết và thường được mời ăn đám giỗ’’. Cái ‘‘mùi đám giỗ’’ là đặc sắc của người kể chuyện làng!
Có cả trong chuyện kể của ông từ cái chợ quê đến những nong hát bội, có những ông Chảng, chàng Lía võ nghệ, những đường quyền, đường gươm hư thực: độc thần kiếm, song thần côn, tam thần đao, tứ thần cung, ngũ thần mã của Nhà Tây Sơn; có xúc cảm bốn mùa, có cái chõng tre, cái võng đu đưa, cái bánh tráng bẻ giòn giòn, chén mắm học trò trường huyện, những thú lặn lội mùa mưa đơm cá, cả thói hư giở trộm dẹp ông hàng xóm mà hồi hộp sung sướng rộn ràng mướt tươi con cá quẫy… Có cả. Một hòn đất, một giọt nước mái tranh, một bếp lửa đêm ba mươi tết. Cũng thấy kia những con trẻ ê a thời cuối Nho học, còn đó chút ngậm ngùi vắng dần các thôn nữ trên đường quê… Huỳnh Kim Bửu vẫn đang kể. Sắp tới rồi sẽ là cọng cỏ nào, tấm áo nào, làn hương nào… không biết, nghe chừng ngay chính người kể cũng không có sắp xếp trước sau gì, chuyện làng mà,  một gợi ý nào đó là chuyện sẽ miên man, chuyện nọ gợi chuyện kia, không dứt.
Có thể nói không ngoa rằng, nếu thực hiện được trọn ý muốn đang định sẵn, những chuyện lan man của Huỳnh Kim Bửu sẽ mang hình vóc một cuốn bách khoa thư về phong hóa một vùng đất. Với cái duyên riêng và đã định hình thành phong cách. Nên dù ông ghi thể loại sách là tản văn, bút ký thì tản văn bút ký này cũng đã riêng, đã khác, theo cái cách của ông và với bạn đọc gần xa, đã nghe quen giọng. Chúc mừng ông và thật nhiều hy vọng từ giản dị và sâu lắng chuyện làng.
  • LHL
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 09:06 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Chan dung van hoc

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu



Tản mạn về cái đồng hồ
“Đi xem đất, về ngước mặt xem trời” (Tục ngữ)



Cái đồng hồ! Hồi thật xa xưa, cái này ở ta không có, còn cách nay chừng 50 -  70 năm thì nó vẫn còn là vật quý hiếm. Tôi còn nhớ, cả trường Tổng hồi tôi theo học, chỉ có thầy Hiệu trưởng (cấp trên thuyên chuyển đến) mới có cái đồng hồ đeo tay. Và trường đã làm việc theo giờ giấc cái đồng hồ của thầy Hiệu trưởng (nhỡ hôm thầy đi vắng thì cả trường chỉ còn nước làm việc theo bóng mặt trời). Sống là làm việc, sinh hoạt theo giờ giấc, tuân thủ giờ giấc. Cho nên, dù không có đồng hồ, người ta vẫn phải có cuộc sống như thế. Nhưng bằng cách nào?

Hình như để “xem” giờ, lỗ tai có vai trò chính. Và cũng bởi thế, giờ còn gọi là tiếng đồng hồ. Người trong các làng quê, ban đêm lắng tai nghe đủ thứ tiếng quen thuộc để biết giờ giấc: Tiếng trống (hay tiếng mõ) cầm canh của ông trương tuần, tiếng vạc kêu, tiếng gà gáy sáng… Nhà Nho chia thì giờ thành Tý, Sửu, Dần, Mẹo… Tuất, Hợi: Một ngày đêm có 12 giờ, “nửa đêm (là) giờ Tý canh ba” (Ca dao), giờ Dậu gà nhảy lên chuồng. Còn nông dân thì khác, họ chia đêm thành  5 canh, ngày ra 6 khắc. Nông dân nuôi con gà trống, cốt để nó gáy báo sáng mà lo thức dậy ra đồng, đi chợ sớm … Người ta còn lắng nghe hồi chuông chiêu mộ, tiếng chiêng thu không để biết lúc chiều về. Chắc Nguyễn Du đã thức nhiều đêm để viết Truyện Kiều, cho nên kết thúc áng thơ tuyệt tác, cụ mới viết: “Mua vui cũng được một vài trống canh”.    

Muốn xem giờ giấc bằng con mắt, bà con phải ngước mặt trông trời. Ban ngày, người ta xem bóng mặt trời và đo thời gian bằng sào (cây sào chống sõng hay sào chận vịt): “Mặt trời lên cao mấy sào rồi nhỉ?”, câu nói vẫn thường nghe ở nông thôn. Người đi đường ngước mặt nhìn thấy ông Mặt trời chói chang trên đỉnh đầu là biết giữa trưa, lo rảo nhanh chân kẻo say cái nắng gắt. “Tà tà bóng ngả về Tây” là lúc chị em Thúy Kiều quay gót về nhà sau một ngày đi du Xuân, gặp gỡ chàng Kim mà chẳng biết, đó là duyên may hay rủi. Người ta cũng ngước nhìn trời đêm đêm để tìm xem những chòm sao: lúc sao hôm mọc biết là đầu hôm, sông Ngân Hà lên thượng đỉnh trời tròn biết nửa khuya, sao mai, sao cày  mọc là gần sáng… Còn Hằng Nga thì luôn đúng giờ: “20 Tuất rốt, 21 nửa đêm / 22 trăng mọc gà kêu, 23 trăng mọc gà đều gáy tan” (Ca dao). Đám cưới thời xưa thường đi lúc nửa đêm, “lưỡng tộc” nhìn trăng, nhìn sao theo kinh nghiệm, để kịp đưa đón cô dâu về nhà chồng đúng giờ tốt đã chọn.  Người ta cũng cúi mặt xem đất: Khi tròn bóng mặt trời trong chân là giữa trưa, mặt trời gác núi là chiều. Thuở là những cậu học trò Tiểu học, ngày hai buổi đến trường, lũ chúng tôi vẫn xem bóng nắng trên sân để đến trường đúng giờ. Bà nội trợ đi chợ về cũng xem vệt bóng mình in trên đường cái để liệu mà nhanh chân kẻo về trễ, khiến chồng đợi, con trông.

Nếu nói cho hết, người ta còn có kiểu xem giờ bằng những diễn biến tâm sinh lý nơi chính mình nữa: Làm việc từ sáng, nghe mệt, mỏi, bụng đói là biết đến trưa rồi; thức đêm đọc sách, con mắt buồn ngủ, tức đêm đã về khuya. Người nông dân khỏe, ăn ngon, ngủ ngon vẫn nói: “Đêm nào cũng thế, tớ ngủ ngon một giấc là tới khuya, ngủ thêm giấc nữa, thức dậy thấy trời gần sáng”.    

Cứ thế, người nông thôn “đi xem đất về ngước mặt xem trời” (Tục ngữ) mà sinh hoạt, lao động có giờ giấc, năng suất, chất lượng để nuôi dân, cho đất nước trường tồn. Thử hỏi, ở thời đại văn minh ngày nay, người ta có cái đồng hồ chỉnh chu, liệu làm ăn hơn trước được bao nhiêu? Bao cậu thanh niên thời nay bảnh bao, trong người có đủ loại đồng hồ nhưng vẫn ngồi quán cà phê tối ngày!

Chẳng biết cho tới lúc nào thì người ta thôi, không tính thời gian bằng canh, bằng khắc mà tính bằng giờ: Một ngày đêm 24 tiếng? Có phải, từ cái ngày Tây sang, nó sang đây cũng mang theo cái đồng hồ 24 tiếng mỗi ngày? Có thể như vậy, vì ở quê tôi hồi ấy, có ông Xếp ga Diêu Trì người Tây mũi cao mắt xanh và ông đã cho treo nơi mặt tiền nhà ga này cái đồng hồ to tướng, chạy rất đúng giờ mà người quê tôi gọi là “Đồng hồ nhà ga”. Về sau, trước nhà Giây thép (Bây giờ gọi là Bưu Điện) phủ An Nhơn cũng có treo đồng hồ to, sáng luyminơ ban đêm. Hình như, người nông dân quê tôi thấy cái đồng hồ đầu tiên là đồng hồ nhà ga?
 
Xem thế, đủ thấy cái đồng hồ thời xưa là quý hiếm, còn thời nay thì cái này nhiều, thật nhiều. Bạn đang ở nhà tư của mình hay đang ngồi nơi văn phòng cơ quan, đang ở phòng bạn thuê nơi khách sạn…  Ở đâu, bạn cũng ở giữa một không gian đồng hồ: Đồng hồ tường, đồng hồ bàn (báo thức) , đồng hồ đeo tay, đồng hồ điện thoại (của vợ chồng, con cái), đồng hồ vi tính, đồng hồ LAPTOP, đồng hồ trên màn hình TV…

Người ta có thú chơi đồng hồ! Cũng do có cái thú chơi đó mà các nhà sản xuất, các cửa tiệm đánh đúng thị hiếu, tranh nhau cho ra đời và giới thiệu các loại đồng hồ: Đồng hồ Thụy Sĩ thật mỏng (hiệu Wyler, Lugran), đồng hồ Nhật automatic (Seiko), đồng hồ vỏ vàng dây vàng, đồng hồ dây da đeo êm cổ tay, đồng hồ chống vô nước… Còn đồng hồ treo tường thì đủ loại: quả lắc, chạy pin, lên giây, tấu nhạc, đổ chuông, có lịch, có hình phong cảnh… Đồng hồ treo tường thời thượng cách nay 50 năm là đồng hồ hiệu ODO thùng to, tấu đàn, gõ chuông, gắn nhãn hiệu ngựa chạy, chỉ nhà giàu mới sắm nổi. Thời nay, có đồng hồ điện tử là thông dụng, vì có nhiều ưu điểm: giá rẻ, chạy đúng giờ, bền… Học sinh lớp 2 sau bài học xem giờ cô giáo dạy, phần đông các em đều thích thực hành xem giờ và bắt đầu đeo đồng hồ.

Hình như người thời nay, ít ai không có kỷ niệm với cái đồng hồ: Đồng hồ mẹ mua cho, đồng hồ bạn tặng, đồng hồ đi mừng đám tiệc, đồng hồ phần thưởng… Anh Hai tôi vẫn thích kể chuyện: Ông Thanh tra Tiểu học và cái đồng hồ quả quít:
Có một hôm, ông Thanh tra Tiểu học về trường tổng Háo Đức Thượng. Thầy Đốc trường hướng dẫn ông vào các lớp học. Ở lớp Ba sơ học của anh Hai, cả lớp sợ nhưng cũng nhìn lén ông trong bộ Âu phục (khác với các thầy trò đều mặc Quốc phục: quần trắng, áo dài đen, đi guốc mộc), và cũng phát hiện ông có vật gì bỏ túi quần tây, được nối với một đai nịt bằng một sợi dây chuyền kim loại màu trắng bạc. Cứ một chặp, ông lại rút túi vật đó ra xem, rồi lại đút túi, cất. Sau này, nhờ đi học trường Phủ, đầu óc có mở mang thêm, anh tôi mới biết, đó là cái đồng hồ quả quít (vì nó tròn trĩnh và cũng to bằng trái quít anh ăn) cho ông biết giờ giấc để làm việc.

Nhiều người thành đạt đã nói về cái đồng hồ của mình hồi xưa như sau: Bằng tiếng tích tắc, đồng hồ vẫn nhắc nhở, này anh bạn trẻ, anh hãy tranh thủ thời gian để học tập, làm việc cho tương lai, sự nghiệp của mình; nếu không thế, anh sẽ bị một ngày không xa rất ảm đạm, và không khỏi sống đời hối tiếc. Nhiều nhà sản xuất lấy biểu tượng ngựa chạy làm lô - gô cho đồng hồ, có ý nhắn nhủ rằng, thời gian là vốn quý cho sự nghiệp của bạn, nhưng nó đi qua nhanh lắm (như ngựa chạy, bóng câu ngoài cửa sổ), cho nên bạn đừng bao giờ thờ ơ với thời gian.

Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 14:51 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: tản văn

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Thơ Mõ sừng

  • Trang Chủ
  • Truyện
  • Thơ
  • Tìm Truyện
Câu lạc bộ mọt sách
  • Nguyễn Bính
  • Hàn Mạc Tử
  • Hồ Xuân Hương
  • Xuân Diệu
  • Xuân Quỳnh
  • Trần Đăng Khoa
  • TTKH
  • --- Xem tất cả ---
  • --- Tìm kiếm ---
 
Danh mục truyện
  • 1
  • ...
    • 2
    • 3
    • 4
    • 5
    • 6
    • 7
    • 8
    • 9
    • 10
    • 11
    • 12
    • 13
    • 14
    • 15
    • 16
    • 17
    • 18
    • 19
    • 20
    • 21
    • 22
    • 23
    • 24
    • 25
    • 26
    • 27
    • 28
    • 29
    • 30
    • 31
    • 32
    • 33
    • 34
    • 35
    • 36
    • 37
    • 38
    • 39
    • 40
    • 41
    • 42
  • 43
  • 44
  • 45
  • 46
  • 47
  • 48
  • 49
  • ...
    • 50
    • 51
    • 52
    • 53
    • 54
    • 55
    • 56
    • 57
    • 58
    • 59
    • 60
    • 61
    • 62
    • 63
    • 64
    • 65
    • 66
    • 67
    • 68
    • 69
    • 70
    • 71
    • 72
    • 73
    • 74
    • 75
    • 76
    • 77
    • 78
    • 79
    • 80
  • 81
Tác phẩm - Thể loại - Tác giả
Epub  Một Người Lính Nói Về Thế Hệ Mình
Thơ - Thanh Thảo
Epub  Một Người Thường
Thơ - Chế Lan Viên
Epub  Một Nửa Trăng
Thơ - Hàn Mặc Tử
Epub  Một Sớm Mai Về
Thơ - Tường Linh
Epub  Một Thoáng Phố Phường
Thơ - Bùi Minh Quốc
Epub  Một thoáng rồi qua đi
Thơ - Bac Tu
Epub  Một Tiếng Em
Thơ - Đinh Hùng
Epub  Một Tiếng Em
Thơ - Ðinh Hùng
Epub  Một Trời Quan Tái
Thơ - Nguyễn Bính
Epub  Một vầng trăng vỡ
Thơ - Từ Kế Tường
Epub  Mơ Duyên
Thơ - Hàn Mặc Tử
Epub  Mộ giang ngâm
Cổ Văn - Bạch Cư Dị
Epub  Mơ Hoa
Thơ - Hàn Mặc Tử
Epub  Mồ không
Thơ - Chế Lan Viên
Epub  Mõ Sừng
Thơ - Huỳnh Kim Bửu
Epub  Mơ
Thơ - Bảo Cường
Epub  Mở
Thơ - Trần Mộng Tú
Epub  Mua Áo
Thơ - Ðông Hồ
Epub  Mùa Bão Lũ
Thơ - Nguyễn Phan Quế Mai
Epub  Mưa chiều
Thơ - Ðặng Hoài Anh
Epub  Mùa Da Diết
Thơ - Đường Hải Yến
Epub  Mùa Đông Đan Áo
Thơ - Nguyễn Bính
Epub  Mùa Đông Nắng Ở Đâu?
Thơ - Xuân Quỳnh
Epub  Mùa đông
Thơ - Trần Quốc Hoàn
Epub  Mưa Dữ Dội Trên Đường Phố Trên Mái Nhà
Thơ - Lưu Quang Vũ
Epub  Mùa Hạ
Thơ - Xuân Quỳnh
Epub  Mùa hạ
Thơ - Trần Quốc Hoàn
Epub  Mùa hè
Thơ - Nguyễn Nhật Ánh
Epub  Mùa Hoa Cải
Thơ - Nghiêm Thị Hằng
Epub  Mùa Hoa Gioi
Thơ - Xuân Quỳnh
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 14:57 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: thơ

Mõ Sừng

Tác giả: Huỳnh Kim Bửu
Chiều – chim bay mỏi
Vật vã ngọn khói đồng
Nỗi niềm muốn gởi hư không
Ngại chòm mây lữ thứ
Em từ viễn xứ
Chữ nghĩa cũng chau mày
Ngày tháng đong đầy
Cơn mê.
Chiều – trăng non
Ký ức mỏi mòn
Thôn nữ ra sông tắm mát
Ngại ngùng cò, vạc, cái nông…
Gió thổi hồng
Vườn xưa của mẹ
Không còn ngày tháng thong dong
Cho mẹ ăn trầu đánh răng đen nhánh.
Chầm chậm chiều
Mục đồng ngồi lưng trâu
Gõ niềm cô liêu
Vào mõ sừng.
Tác phẩm khác:
Mõ Sừng - Huỳnh Kim Bửu
Hoa Huệ - Bế Kiến Quốc
Hoa hướng dương - Nguyễn Nhật Ánh
Hoa khế - Nguyễn Nhật Ánh
Hoa Lúa - Hữu Loan
Hoa Mua - Phạm Ngọc 
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 14:15 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: thơ

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2011

giới thiệu sách Trong như tiếng hạc bay qua, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam


24 giờ qua
 

Kết quả Tìm kiếm

  1. Giới thiệu tác phẩm Trong như tiếng hạc bay qua | WELCOME TO ...

    songcon.vnweblogs.com/post/16810/321568
    Bạn +1 mục này công khai. Hoàn tác
    21 phút trước đây - -Trong như tiếng hạc bay qua (Tập tản văn, bút ký - Nhà xuất bản Hội nhà văn .... (Phòng đọc tự chọn sách KHXH & NV, P.402, tầng 4 - nhà D), VV11.11645 ...
    ►
  2. Thứ ba, ngày 06 tháng chín năm 2011 - sông côn

    huynhkimbuu2.blogspot.com/2011/.../tra-cuu-tai-lieu-tra-cuu-tai-lieu-so.ht...
    Bạn +1 mục này công khai. Hoàn tác
    56 phút trước đây - Trong như tiếng hạc bay qua : Tập tản văn, bút ký / Huỳnh Kim Bửu ... (Phòng đọc tự chọn sách KHXH & NV, P.402, tầng 4 - nhà D), VV11.11645, Trong kho ...
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 21:08 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: Giới thiệu sách
  • Tra cứu tài liệu
  • Tra cứu tài liệu số
  • Z39.50
  • Xuất bản số
  • CDROM
  • Bộ sưu tập
  • Hướng dẫn
  • Liên hệ
  • Eng
  • Vie
Dịch vụ    Từ khóa   Thứ ba, 06/09/2011
Xem chi tiết biểu ghi

Kiểu xem
Hiển thị ISBD: Trong như tiếng hạc bay qua : Tập tản văn, bút ký / Huỳnh Kim Bửu. - H. : Nxb. Hội Nhà văn, 2011. - 255tr. ; 21cm
Chỉ số ISBN
49000đ. - 1000b
Ngôn ngữ
vie
Phân loại DDC
895.922803  
Tác giả
Huỳnh Kim Bửu  
Nhan đề
Trong như tiếng hạc bay qua : Tập tản văn, bút ký / Huỳnh Kim Bửu
Nơi xuất bản
H. : Nxb. Hội Nhà văn, 2011
Mô tả vật lý
255tr. ; 21cm
Từ Khoá
Văn học hiện đại  
Từ Khoá
Việt Nam
Từ Khoá
Bút kí; Tản văn
Kho Lưu chiểu
(Kho Lưu chiểu)
279326 Trong kho chưa sẵn sàng
Kho mở KHXH
(Phòng đọc tự chọn sách KHXH & NV, P.402, tầng 4 - nhà D)
VV11.11645 Trong kho chưa sẵn sàng
VV11.11646 Trong kho chưa sẵn sàng
VV11.11647 Trong kho chưa sẵn sàng
Xem tiếp
020 # # c 49000đ
d 1000b
041 0 # a vie
082 1 4 2 14
a 895.922803
100 1 # a Huỳnh Kim Bửu
245 1 0 a Trong như tiếng hạc bay qua
b Tập tản văn, bút ký
c Huỳnh Kim Bửu
260 # # a H.
b Nxb. Hội Nhà văn
c 2011
300 # # a 255tr.
c 21cm
650 # 7 2 Bộ TK TVQG
a Văn học hiện đại
651 # 7 2 Bộ TK TVQG
a Việt Nam
655 # 7 2 Bộ TK TVQG
a Tản văn
655 # 7 a Bút kí
2 Bộ TK TVQG
910 c K.Nga
h oanh
920 # # a Huỳnh Kim Bửu
930 a 279326
941 b VH
Tài liệu mới
Chọn trang
1. Phương pháp giải bài tập lôgic học / Vương Tất Đạt,Nguyễn Thị Vân Hà .- 2011 Chi tiết
2. Sửa chữa và quấn lại động cơ điện / Bùi Văn Yên .- 2011 Chi tiết
3. Giáo trình quản lí giáo dục mầm non / Phạm Thị Châu .- 2011 Chi tiết
4. Giáo trình đánh giá trong giáo dục mầm non / Đinh Thị Kim Thoa .- 2011 Chi tiết
5. Quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản ở Việt Nam / Bùi Văn Huyên,Đinh Thị Nga .- 2011 Chi tiết
Tài liệu đọc nhiều nhất
Không có sách mới
Người đăng: Huỳnh Kim Bửu vào lúc 19:57 Không có nhận xét nào:
Gửi email bài đăng nàyBlogThis!Chia sẻ lên XChia sẻ lên FacebookChia sẻ lên Pinterest
Nhãn: tản văn
Bài đăng mới hơn Bài đăng cũ hơn Trang chủ
Đăng ký: Bài đăng (Atom)


Thông tin chủ blog

Ảnh của tôi
Huỳnh Kim Bửu
Sinh năm 1942 tại làng Trung Định, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định. ĐHSP Văn, dạy học, viết sách. *Sách đã xuất bản: - Nơi con sông Côn chảy qua (Tập tản văn, bút ký. Nhà xuất bản Trẻ - 2009) - Mùa Thu biết thở ra hương (Tập thơ. Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2010). -Trong như tiếng hạc bay qua (NXB Hội Nhà văn - 2011) - Nhiều thơ, văn đăng trên các báo, tạp chí TW và địa phương, nhiều tuyển tập do Hội VHNT Bình Định ấn hành. *Sắp xuất bản: - Ngõ phong lan (Tập thơ). - Vườn cũ (Tập tản văn, bút ký) - Thơ, văn Huỳnh Kim Bửu Email: huynhkimbuuqn@gmail.com ĐT: 01685 273995.
Xem hồ sơ hoàn chỉnh của tôi





ĐỜI NỬA KHÓI MÂY CHÌM BÓNG MỘNG
KÊU ĐÒ MỘT TIẾNG LẠNH HƯ KHÔNG

QUÁCH TẤN





Chuyên mục

thơ (2) bình thơ (1) bút ký (10) Cảm nhận đọc sách (1) Chan dung van hoc (1) Chân dung văn học (1) cung chúc tân xuân (1) Giới thiệu sách (1) Giới thiệu tác phẩm (4) Lời chúc tết (1) tan van (2) tản văn (41) thơ (42) tranh ảnh (2) truyện ngắn (1) video (1)




Tổng số lượt xem trang










Bài viết mới nhất
của bạn bè tôi

  • THUY DOAN
    Kính Mừng Ngày Vía Bồ Tát Quán Thế Âm Thành Đạo (19-6 ÂL) - Avalokiteshvara (Picture From Internet) *Nguồn >> BÁT NHÃ TÂM KINH: >> https://youtu.be/_Ki65A23nvE?si=ibAWxjxgw8CGRTDh* *** *Nhạc Chú Đại Bi Tiế...
    1 tháng trước
  • Kiều Giang
    Câu Chuyện Một Dòng Sông - Truyện ngắn Kiều Giang [ Tiếp theo và hết ] 2. Thế rồi, sau gần 30 năm đấu tranh thấm đầy máu và nước mắt với những nhóm quyền lực đã lỡ thọ hưởng sự ...
    2 năm trước

  • Lưu Xuân Thanh
    - Trước Hết Là Bài Tập Thở - Nguyễn Khắc Viện Có lần tôi hỏi anh : " Nếu như làm một tuyển tập các bài viết của anh, thì theo anh, những bài nào là có giá...
    8 năm trước
  • quang loc online
    truyen ngan THOI HOA DO TRAN QUANG LOC - Chiếc xe khách 15 chỗ ngồi đang bon bon hướng về thành phố Buôn Ma Thuột bỗng dưng có triệu chứng chết máy. Tài xế phải cho xe dừng lại trước một quán cà p...
    10 năm trước
  • nguyễn thanh hiện tác phẩm
    -
















Lưu trữ

  • ▼  2012 (54)
    • ▼  12/23 - 12/30 (4)
      • NHỮNG LỜI GÀO THÉT CHÂN TÌNH Oswaldo Gu...
      • Thơ Huỳnh Kim Bửu Từ con cá nhảy lên ...
      • Thơ Huỳnh Kim Bửu Nắng tháng giêng Nắn...
      •  Một ngày của Chuá Trương Văn Dân      Ch...
    • ►  12/09 - 12/16 (4)
    • ►  12/02 - 12/09 (4)
    • ►  11/25 - 12/02 (6)
    • ►  11/18 - 11/25 (2)
    • ►  11/11 - 11/18 (1)
    • ►  11/04 - 11/11 (2)
    • ►  10/21 - 10/28 (1)
    • ►  10/14 - 10/21 (1)
    • ►  10/07 - 10/14 (1)
    • ►  09/30 - 10/07 (1)
    • ►  09/23 - 09/30 (1)
    • ►  08/26 - 09/02 (4)
    • ►  06/03 - 06/10 (1)
    • ►  05/20 - 05/27 (2)
    • ►  05/13 - 05/20 (3)
    • ►  05/06 - 05/13 (1)
    • ►  04/08 - 04/15 (1)
    • ►  04/01 - 04/08 (1)
    • ►  02/26 - 03/04 (3)
    • ►  02/19 - 02/26 (2)
    • ►  02/05 - 02/12 (1)
    • ►  01/29 - 02/05 (1)
    • ►  01/08 - 01/15 (3)
    • ►  01/01 - 01/08 (3)
  • ►  2011 (60)
    • ►  12/25 - 01/01 (2)
    • ►  12/18 - 12/25 (2)
    • ►  12/04 - 12/11 (1)
    • ►  11/27 - 12/04 (4)
    • ►  11/13 - 11/20 (1)
    • ►  11/06 - 11/13 (1)
    • ►  10/30 - 11/06 (3)
    • ►  09/25 - 10/02 (1)
    • ►  09/18 - 09/25 (2)
    • ►  09/11 - 09/18 (2)
    • ►  09/04 - 09/11 (2)
    • ►  08/14 - 08/21 (2)
    • ►  08/07 - 08/14 (1)
    • ►  07/17 - 07/24 (1)
    • ►  06/26 - 07/03 (1)
    • ►  06/19 - 06/26 (1)
    • ►  06/12 - 06/19 (1)
    • ►  05/29 - 06/05 (1)
    • ►  05/22 - 05/29 (2)
    • ►  05/15 - 05/22 (1)
    • ►  05/08 - 05/15 (4)
    • ►  04/17 - 04/24 (4)
    • ►  03/20 - 03/27 (1)
    • ►  03/06 - 03/13 (2)
    • ►  02/27 - 03/06 (1)
    • ►  02/20 - 02/27 (1)
    • ►  02/13 - 02/20 (2)
    • ►  02/06 - 02/13 (1)
    • ►  01/30 - 02/06 (2)
    • ►  01/23 - 01/30 (2)
    • ►  01/16 - 01/23 (3)
    • ►  01/09 - 01/16 (2)
    • ►  01/02 - 01/09 (3)
  • ►  2010 (41)
    • ►  12/26 - 01/02 (1)
    • ►  12/19 - 12/26 (2)
    • ►  12/12 - 12/19 (1)
    • ►  12/05 - 12/12 (2)
    • ►  11/28 - 12/05 (3)
    • ►  11/21 - 11/28 (8)
    • ►  11/14 - 11/21 (15)
    • ►  11/07 - 11/14 (9)






Liên kết

  • Trang web hội nhà văn
  • Tienve
  • Vanchuongviet


collections


Chủ đề Hình mờ. Được tạo bởi Blogger.