|
| ||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
.
Chủ Nhật, 26 tháng 2, 2012
Thơ Huỳnh Kim Bửu, do nhà văn Triệu Xuân giới thiệu
Thứ Năm, 23 tháng 2, 2012
Thơ Huỳnh Kim Bửu
Du xuân cùng thị xã An Nhơn
Ngủ trong thành Hoàng Đế
Đâu gió gác trăng thềm
Nghe đêm xuống bốn bên
Trôi một dòng Quai Vạc…
Đi theo chiều thị xã
Nắng quái nửa đường tàu
Cái hôm làng khai hội
Cờ nheo bay trên đầu
Về Khu Đông ngắm lúa
Đi trong hương của đồng
Lúa tháng Ba chín rộ
Những ngõ tre xa trông…
Trưa trên cầu Phụ Ngọc
Ngọn gió ngã ba sông
Nếp đình cổ Cây Bông
Vàng son còn rực rỡ
Thị xã đêm rất nồng
Phố cà phê đèn lồng
Nhạc về khuya êm dịu
Trăng Cửa Lầu nét cong
Ngày “đạp thanh” ở quê
Mùa Xuân như võng đưa…
Vũ nữ trên tháp cổ
Ngực mùa Xuân lửa bừng.
Mạnh Xuân Nhâm Thìn
Thứ Tư, 22 tháng 2, 2012
Thơ Huỳnh Kim Bửu
Mười năm nghe lại
tiếng gà trong thôn
Ta về ngồi lại với xưa
Mở trang cổ tích gặp tờ thư xanh
Trông lên rêu phủ mái đình
Sương sa phổng đá lời tình vi lô (1)
Lên chùa kiến Phật nam mô
Biển xanh phía trước lô xô mặt ghềnh
Kể từ ngày tháng rộng thênh
Vắt vai hồ thủy gọi tên núi đèo
Tượng đồng dựng giữa cheo leo
Tàn thu gió cuốn hắt hiu gió ngàn
Ngắm chiều mây trắng mây vàng
Hiên trăng treo một đài trang tuyệt trần.
Tung tăng với bóng trong sân
Tàu cau rụng xuống thoảng gần hương xưa
Giọt thềm rớt giữa cơn mưa
Hình như một chút ngày xưa ngại ngần.
Trời tròn cho rộng trăng ngân
Chinh nhân lấm áo… bụi trần ngân nga
Cổng vôi gần, lữ quán xa
Mười năm nghe lại tiếng gà trong thôn.
(1) Vi lô san sát heo may
Một trời thu để riêng ai một người (Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Thứ Hai, 6 tháng 2, 2012
Thơ Huỳnh Kim Bửu
THÁNG GIÊNG

Tháng giêng nghiêng chiều xuống mắt nai
Nghiêng những tình xa nhuộm tím ngày
Nghiêng em tròn mộng trăng mười sáu
Nghiêng một lần thôi giọt rượu cay.
Tháng giêng ai rót màu nắng mới
Rót xuống sân đình áo mở ba
Rót câu trung hiếu vào nam khách
Rót đến trăm năm vị đậm đà.
Tháng giêng viền cỏ mượt chân đê
Sông chảy đò xa lạnh bến quê
Làm sao người chẳng viền nỗi nhớ
Treo giữa xuân xanh mấy trăng thề?
Tháng giêng hái lộc chùa Nhân Qủa
Lộc chùa ta hái những sắc – không
Em có hái mười năm tình cũ
Làm yên cương cho một sắc ngựa hồng!
Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012
Tản văn của Huỳnh Kim Bửu
Thiều quang chín chục
Mùa xuân là mùa của lễ hội, mùa của những thú du xuân. Thơ chữ Hán tả thú bốn mùa, đã viết về thú mùa Xuân là đi dạo chơi trên những thảm cỏ non tơ: “Xuân du phương thảo địa”. Thi hào Nguyễn Du mở đầu Truyện Kiều tả một cuộc du xuân của ba chị em Thúy Kiều với cảnh đất trời đẹp đẽ và những cuộc gặp gỡ chẳng dè đó vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của bao nỗi oan khiên, bất hạnh xảy đến cho đời Kiều.
Mùa Xuân có chín mươi ngày nắng mới (Thiều quang chín chục…- Truyện Kiều, Nguyễn Du) sưởi ấm cái lạnh rớt của mùa Đông năm trước. Và trong màu nắng mới, vạn vật vừa kịp bừng thức, làm nên cảnh đẹp của mùa Xuân để cho thi nhân phải hết lời ngợi ca:“Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” (Xuân Diệu).
Mấy ai chẳng là khách du xuân? Mới sáng mồng một tết, ông tôi khăn điều, áo đỏ, gậy trúc, guốc tre đi ra hội đình để cùng dự cúng tế với các bô lão, kỳ mục ở trong làng. Du xuân ba ngày tết là đi ra đình làng khai hội xuân, đi chùa hái lộc đầu xuân, đi mừng tuổi họ nội - họ ngoại, đi thăm xuân, chúc tết:“Bắt chước ai ta chúc mấy lời…” (Thơ Trần Tế Xương)… Kế đó, người ta còn có bao nhiêu lễ hội nữa kéo dài trong cả mùa Xuân: Đi Tết nguyên tiêu ở đền chùa để cầu Phước Lộc (vì Đi chùa một năm, không bằng Rằm tháng giêng - Tục ngữ) đi Hội thơ nguyên tiêu để tham dự vào cuộc ngâm vịnh thơ phú mỗi năm chỉ có một lần; đi dự các lễ hội hằng năm ở các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh… Ở quê Bình Định, mới mồng 5 tết đã tưng bừng lễ hội chiến thắng Đống Đa ở nơi phát tích sự nghiệp anh hùng của ba anh em nhà Tây Sơn.
Tới đầu tháng Ba, mùa xuân đã đi qua hết 2 / 3 thời gian: “Thiều quang chín chục, đã ngoài sáu mươi”, nhưng cái không khí hội xuân thì vẫn còn nguyên vẹn: “Thanh minh trong tiết tháng ba / Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh” (Kiều, Nguyễn Du) . Thời gian dành cho tu tảo phần mộ (tức chạp mả, ở Bình Định còn gọi dẫy mả) kéo dài từ tháng Chạp năm trước đến tháng Ba năm sau. Theo phong tục, ngày chạp mả là ngày hội của gia tộc. Con cháu ở đâu cũng về đi chạp mả, đông đến trắng gò, và coi đó là tỏ lòng biết ơn đối với Tổ tiên, ông bà quá cố, là sống hướng về cội nguồn, tổ tông, như “cây có cội nước có nguồn”. Và trong tiết Thanh minh, người ta cũng sẵn lòng chạp mả, đốt nén nhang thơm phảng phất cho những mồ vô chủ (ai mà viếng thăm - Truyện Kiều, Nguyễn Du) để cầu cho những vong hồn dưới đáy mộ sâu đỡ phần cô quạnh. Bên cạnh ngày hội gia tộc (là tu tảo phần mộ), người ta còn có bao hội làng để tiếp nối cái hội làng giêng, hai. Các làng đua nhau cúng tế Thanh minh theo lệ “Xuân Thu nhị kỳ” ở ngôi đình làng thờ Thành hoàng (xóm nào có miễu Thanh minh thì còn cúng tế Thanh minh ở miễu nữa). Và việc cúng tế thường đi kèm với tổ chức hát bội cho bàn dân thiên hạ xem. Việc này thành lệ đã lâu, cho nên dân gian mới có thành ngữ “Trong chay ngoài bội” để mô tả cái hội làng tưng bừng này.
Cuộc du xuân nào chẳng đông vui, chẳng trên bến dưới thuyền. Gặp chỗ phồn hoa đô hội, đâu vắng cảnh dập dìu tài tử giai nhân, ngựa xe như nước áo quần như nen (Truyện Kiều – Nguyễn Du). Mỗi cuộc du xuân, người ta được đắm hồn trong cảnh sắc mùa xuân quê hương, là dịp cho người ta tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán của một miền đất, một vùng quê, về lịch sử, truyền thống của địa phương và dân tộc mà người ta vẫn yêu quý và tự hào. Du xuân còn là dịp cho những cuộc gặp gỡ giao lưu, anh trai làng làm quen với cô thôn nữ, giai nhân chẳng hẹn mà gặp người tài tử. Như ngày xưa Thúy Kiều gặp Kim Trọng, như cô bé đi hội chùa Hương và chàng trai lẻo đẻo theo sau trong thơ Nguyễn Nhược Pháp: “Em đi chàng theo sau / Em không dám đi mau / Sợ chàng chê hấp tấp / Số gian nan không giàu” (Chùa Hương). Không chừng, bởi gặp nhau ngày du xuân đó mà nẩy sinh ra những kỷ niệm khó quên, chuyện nhân tình nhân ngãi, chuyện rủi may duyên phận khó lường. Nhờ Phật Trời phù hộ, mẹ ta được tuổi cao, nhưng vì sức đã yếu, mẹ không đi dự hội xuân được. Dẫu vậy, lòng mẹ vẫn vui, vẫn náo nức khi nghe tiếng trống chèo: “Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ / Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay” (Thơ Nguyễn Bính).
Nay đã khác xưa nhiều. Đường làng hồi xưa đường đất, cỏ mọc lan mới có “đạp thanh”, nay tráng nhựa, đổ bê – tông xe ô - tô, xe máy chạy, làm sao có anh trai làng lại đủng đỉnh “một mai một cuốc một cần câu” như thuở cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm còn sống, ở ẩn và làm thơ. Nhìn xem, bao người ở các vùng quê, các tỉnh lẻ đến các thành phố lớn làm ăn. Mỗi năm bà con về quê một lần để đoàn tụ gia đình và ăn tết. Cuộc đoàn tụ chưa đủ ấm mái gia đình, mới mồng hai, mồng ba…sau tết, nhiều người lại hối hả lên tàu xe trở lại thành phố. Cho kịp bắt đầu cuộc mưu sinh của năm mới.
Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012
Bút ký Huỳnh Kim Bửu
Nghĩ một chút về tặng quà Tết
Tặng quà Tết, đi Tết, chúc Tết, chắc đã có từ xưa, vì trong dân gian đã sớm có câu truyền miệng: “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy” (Tục ngữ).
Khi trong các làng quê, người ta thấy mai vàng, cúc tím, sen hồng nở rực rỡ và cảnh chuẩn bị đón Xuân cũng xem chừng đã rộ lên, thì đồng thời cũng thấy rộ lên việc đi Tết, tặng quà Tết.
Tặng quà Tết hồi xưa quá đơn giản, trong làng, trong nhà có món gì hay hay, dùng hợp với phong vị trong mấy ngày Tết thì có thể làm quà Tết được: Cân thịt nạc, con gà mái tơ, giạ lúa nếp thơm, đậu đỗ, vài ràng bánh tráng… Nếu có phải đi mua thì cũng mua trong chợ quê thôi: vài gói trà Tàu hoặc cặp rượu khằn Mai Quế Lộ, chục bao thuốc lá hiệu Nam Dương… Không hề có quà là rượu ngoại (kể từ thời Tây sang), phong bao đựng tiền Đông Dương có đề chữ PAR AVION.
Khi biếu tặng quà, người ta thường lấy tấm lòng chân thành, quý trọng làm chính, lễ vật chỉ là phụ, làm cớ để nói lên tấm lòng. Người ở phận dưới mang quà đến nhà người trên thì nói là “đi Tết”, cho nó trọng vọng, đúng lễ nghĩa, chứ không dám nói là tặng quà. Ngày trước Tết, ta thường gặp trên đường làng, những cặp cô dâu - chú rể mới cưới… chở lồng gà, trà rượu đi Tết mai dong, cha mẹ vợ; anh tá điền quảy giạ nếp sang biếu ông chủ điền; ông chủ tân gia cầm chai rượu quà sang tết nhà ông bầu thợ mộc, thợ mái vừa mới cất nhà cho mình… Cũng trên các nẻo đường quê dịp giáp Tết, người ta dễ gặp những chiếc xe ngựa chở lính và hàng chạy tung bụi mù. Đó là những chiếc xe quan Tri huyện phái đi đốc thúc việc quan trước Tết và nhân tiện chở quà do thuộc cấp cai quản các làng, tổng đi tết quan trên. Cái đó, dân gian gọi là lộc quan, mà quan thì cũng không ít ông thật tình tin thế! Dù sao, hình như cũng có chỗ bất ổn, có chuyện không minh bạch ở đây (như cách nói thời sự hiện nay)!
Mấy ngày Tết là trọng đại, cho nên tập tục và lễ giáo đã dành cho “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”. Con cháu thường tặng quà Tết cho ông bà, cha mẹ những bộ quần áo lụa mới may, quả bánh, chai rượu tân Xuân để làm nghi thức mừng tuổi và chúc thọ. Ông bà, cha mẹ không quên nhét vào túi lũ cháu con lít nhít phong bao đựng đồng tiền mừng tuổi mà thời nay người ta gọi là tiền lì xì, cho nó có vẻ tượng thanh, tượng hình, theo kiểu làm văn nghệ. Quà Tết của thầy học thường thì bao trà, cân nếp hương, cho hợp với cuộc sống thanh đạm của ông đồ nho…
Trong làng, xã, có người giàu, người nghèo, người lo được Tết, người không tự lo được Tết. Cho nên mỗi Tết, hương chức tổ chức tặng quà Tết cho người bị khó khăn. Quà này thì gạo cứu đói, áo quần cứu rét, vài ba món bánh trái ăn Tết…
Trong năm, ngoài Tết Nguyên đán, còn có Tết Đoan ngọ - mồng năm tháng năm, Tết Trung thu - Rằm tháng tám…cũng là dịp cho người ta tặng quà.
Việc tặng quà nhân các ngày Tết có ý nghĩa nhân văn lắm. Trước hết, nó giáo dục lòng biết ơn, tình thơm thảo dành cho nhau, sự chăm sóc nhau trong cuộc sống. Và đối với mấy ngày Tết thì đây là “một năm chí tối có một lần nhớ nhau, chứ quanh năm thì tất bật quá”.
Không ai tặng quà mà không thưa nói lời chúc. Vẫn nghe người ta chúc nhau: Minh niên hạnh phúc / Tân xuân Phúc – Lộc – Thọ / Tân xuân như ý / Xuân an lạc (trong giới Phật tử) … Dẫu tin hay không tin hiệu quả của lời chúc Tết, người ta vẫn thích đón nhận những lời chúc tết tốt đẹp, thực tình thấy lòng sướng vui trước những lời chúc, nuôi cho mình một hy vọng trong năm mới. Bởi thế, nhiều người sành tâm lý hay lựa lời mà chúc, chúc những gì người ta đang ham muốn. Tỉ như người đang làm quan thanh liêm thì chúc được còn làm công bộc cho dân, được mãi dân thương dân mến, không chúc bỗng lộc cùng mũ cao áo dài; người nghĩa khí thì chúc trọng nghĩa khinh tài, một tấc lòng son với đời…
Xem như vậy, việc đi Tết, tặng quà Tết là một nét văn hóa, một nếp thuần phong mỹ tục. Xin đừng để bao giờ bị lạm dụng mà thành không hay.
Trong xã hội ta hiện nay đã có nhiều người khá giả nhưng số người khó khăn vẫn còn nhiều, hố chênh lệch giàu nghèo có khoảng cách rộng, người bị thiên tai lũ lụt, nạn nhân chất độc da cam – người khuyết tật rất đông. Từ nhiều năm nay, các cuộc tặng quà tết cho người nghèo, cho các đối tượng bị bất hạnh trong cuộc sống đã thành lệ hay. Mong rằng, Tết năm nay, các cuộc tặng quà cho các đối tượng khó khăn ăn Tết sẽ nhiều hơn, cùng khắp hơn với nhiều lực lượng xã hội tham gia hơn. Làm được đến thế thì nhà gặp khó khăn được ăn Tết như mọi nhà, các cụ già bị thiên tai được thấy cảnh xuân đất nước là tươi vui, các em thơ bị lũ lụt được sống trở lại cái tuổi thơ hồn nhiên của mình, được nắm tay nhau tung tăng trên những đường làng rực rỡ ánh xuân huy.
Thứ Tư, 11 tháng 1, 2012
Thơ Huỳnh Kim Bửu
Những tình đợi cất thành thơ
Có ai thăm chừng lá đỏ
Gió xuân đã thổi hay chưa?
Đò tình còn trôi chưa đỗ
Sông xuân một dải trong mưa.
Có ai thăm giùm hoa nở
Giọt sương có gội chiều qua?
Thương ai cầm xuân đi hỏi
Vu vơ một cõi Ta Bà.
Hỡi tình có thương không nhỉ
Mà em lỡ mất xuân thì
Có tại bóng chiều thủ thỉ
Ngàn dâu còn mãi xanh rì?
Xuân của đất trời thì mới
Xuân em chưa cũ bao giờ
Hỡi những ngày vừa chín tới
Những tình đợi cất thành thơ.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)