.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu



Xin một chung rượu tràn



Có một người đợi Xuân
Để biết mình nhan sắc
Mùa Xuân xanh như tóc
Bay thành mây bồng bềnh.

Có một mùa Xuân nhỏ
Ghé vào mắt người tình
Em ơi đừng sợ vỡ
Một tình yêu thuỷ tinh.

Mùa Xuân không nói khẽ
Những lời xanh như mơ
Chỉ có niềm lặng lẽ
Từ trái tim vô bờ.

Đã mấy Xuân thênh thang
Cho mặc vừa áo mộng?
Xin một chung rượu tràn
Uống cuộc tình viên mãn.


Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu



Còn thơm phức cho tới bây giờ


                                       
                                       

        Rau - củ - đậu, hồi xưa, là chuyện của người nghèo: “Đói ăn rau, đau uống thuốc” (Tục ngữ), “Củ lang Đồng Phó / Đậu phộng Hà Nhung /Chàng bòn thiếp mót / Đổ chung một gùi” (Ca dao Bình Định). Nhưng bây giờ thì khác, “bộ ba” này là đề tài của mọi người, nhất là những người lo bệnh, lo già, người chuộng ăn chay, sợ phạm sát sanh…  Bài này, xin nói riêng về đậu phộng, trong dòng họ đậu đông con cháu, mà cũng chỉ thiên về cái khía cạnh văn hóa ẩm thực từ trái đậu này.

       Cây đậu phộng (còn gọi đậu phụng, lạc) thuộc họ thảo, được trồng trên đất ven sông (ruộng soi), ruộng chân cao, mảnh đất dễ thoát nước. Đất phù sa, tơi xốp làm cho cây đậu phộng phát triển tốt, sai quả. Ta vẫn gặp các trẻ con ngồi chơi, đố nhau: “Trên thượng lầu, có bông không trái / Dưới hạ lầu có trái không bông…Đố là cây gì?”. Nhiều em trả lời được: -“Cây đậu phộng”. Nếu đậu phộng không khác thường, khó nghĩ, đã không thành câu đố. Cây này nở hoa, kết trái không ở trên cành như các giống cây khác. Hoa đậu phộng lấm tấm vàng, cánh mỏng, nhụy sợi đỏ (như sợi cước) phơi trên nền lá xanh đậm trải trên mặt đất. Trái đậu phộng kết thành một chùm ở bộ rễ, giấu dưới đất.
       Ruộng đất quê tôi hồi xưa, cứ thu hoạch xong vụ lúa Đông Xuân, phần nhiều được cày để ải; phần còn lại, tùy ở chất đất, có đám được trỉa đậu phộng, đám trồng dưa hồng, dưa gan… như thể không cho đất nghỉ. Từ khi trồng đậu cho tới khi được một “mùa lạc” phải mất chừng 3 tháng. Nước tưới ruộng đậu phộng thường ở mức nước chưn, đến gần mùa thu hoạch giảm xuống, chỉ giữ đủ ẩm. Trẻ con thường thích “la cà” những đám ruộng đậu phộng, ruộng dưa để rình bắt tổ chim chiền chiện (loài chim xây tổ dưới đất ruộng khô, giấu kỹ tổ trong vỉa cày, trong các gốc cây đậu um tùm). Được một tổ chim chiện non, chú bé nào cũng thích đem về nuôi, chăm sóc, chờ ngày chim trưởng thành cho tiếng hót hay: “Bay vút tận trời xanh / Chiền chiện cao cùng hót / Tiếng chim nghe thánh thót / Văng vẳng khắp cánh đồng” (Thơ Thăm lúa – Trần Hữu Thung).  
      
      Đậu phộng chủ yếu dùng để chế biến thực phẩm.
      Trước hết, người ta ép dầu ăn: dầu phộng. Chủ lò ép dầu phộng làm cái bộng dầu (khoét bụng một cây to, đường kính chừng non mét), sắm khuôn, chảo, vại, thùng ván, chày gỗ săng, thuê thợ… Khi ép dầu, thợ cho đậu phộng trái vào khuôn (hình bánh xe cút kít, lót rơm làm vỏ bọc cho khuôn), rồi xếp các khuôn đó ken nhau trong bộng để ép bằng chày đóng: dầu từ các khuôn chảy ra thùng hứng. Đậu bị ép hết dầu, phần còn lại là bã đậu, cho người ta cái bánh dầu. Ở quê tôi, có các làng nghề ép dầu phộng nổi tiếng là Đa Tài, Kim Ngọc… thuộc xã Nhơn Phong.  Khi đến mùa đậu, chủ bộng dầu đi mua đậu nguyên liệu khắp trong vùng An Nhơn, Tuy Phước, Phù Cát… đem về chọn trái to, già, loại bỏ trái nhẩn, trái non, rồi phơi khô khan trước khi ép ra dầu. Chẳng biết tại sao dân gian đem so sánh việc ép dầu, mỡ với ép duyên: “Ép dầu, ép mỡ, chớ ai nỡ ép duyên”? Nghe thảm lắm, thiển nghĩ, cái duyên mà ép thì không thành lương duyên, mai sau khó tránh đổ vỡ. Ép dầu có hai cách: Ép nguyên vỏ trái đậu (đỡ công bóc vỏ là thứ công nặng nhọc) và ép đậu đã bóc sạch vỏ. Sản phẩm dầu ép cả vỏ đậu là phổ biến, chỉ khi đặt hàng, người ta mới ép dầu bóc vỏ. Thứ dầu phộng bóc vỏ có màu vàng ngà (không lẩn tạp chất: vỏ) trong veo, sóng sánh, thơm lựng…Đem dầu này chế biến thức ăn gì cũng cho cái hương vị thơm ngon, đậm đà, ăn ngon. Ai cũng biết, dầu phộng cũng như các dầu thực vật khác, được xếp vào loại “chay mặn đều dùng được”. Ở quê tôi, có nghề bán dầu dạo, sỉ và lẻ. Tôi còn nhớ hình bóng bà Biện Dương, trạc năm mươi, mặc áo dài đen tém vạt, xách dép chạy lúp xúp đàng sau anh con trai gánh thuê cho bà. Hàng dầu lưu động của bà là đôi thùng gỗ đựng dầu, đặt trong quang gánh cùng nhiều muổng, gáo, chai lọ lỉnh kỉnh mà cái nào cũng ướt rượt, láng bóng, cũng cho người ta cảm giác trơn tuột khi cầm nắm.
       Sau dầu phộng, ước còn đến trăm thức ăn nữa, cũng từ nguyên liệu đậu phộng.
Nghề bán lạc rang, lạc luộc, kẹo đỗ ở các đô thị đã nuôi sống không ít thị dân nghèo. Kẹo mè xững – đậu phộng Huế là một trong những đặc sản Huế, có thương hiệu. Ra Hà Tĩnh lần đầu, tôi ngạc nhiên vì các bảng hiệu: “Trung tâm Ku – đơ” dựng dọc các đường phố. Thì ra, đó là tiệm kẹo đỗ, chế biến theo cách xứ này. Đám tiệc, nhờ món đậu phộng da cá mời trước mà thực khách sẵn lòng vui vẻ cụng ly, ngồi chờ giờ phút trịnh trọng tuyên bố khai mạc tiệc. Món chè trôi nước (bột nhứt, đậu phộng) chè tổng hợp nếp - đậu phộng rang - đường muổng nấu đặc vẫn là món chè ngon cho người hảo ngọt. Gói xôi nếp rắc muối đỗ vẫn là món điểm tâm của người nghèo trong các xóm lao động. Bao nhiêu đứa trẻ thơ ở các làng quê, đi học xa nhà, mỗi ngày nhờ cơm nắm muối đỗ mẹ cấp mang theo mà có bữa trưa ở lại trường. Ta vẫn nhớ ngoại, bữa chay nào cũng tương bánh dầu (do bà tự ủ), có màu nho chín, vị chua ngọt, mằn mặn, cho ngoại chấm đầu đũa và với cơm gạo đồng. Bánh dầu thịt (ép từ trái đậu bóc vỏ) lột hết lớp rơm quấn quanh, đem xắt thành lát, ăn với đường tán đen, cũng thích. Nhất là ăn vào mỗi trưa hè để uống bát trà Huế giải khát vun bọt, vừa mới pha. Nhiều tài liệu viết, ăn đậu phộng có lợi cho sức khỏe trái tim. Nhưng ăn cách nào thì đạt được điều lợi ích đó? Bánh dầu vỏ (ép bởi trái đậu nguyên vỏ) không ai ăn, nhưng là nguồn phân bón quan trọng: nó tốt ruộng, tốt vườn mà hơi nặng đất.
       Trong lịch sử “tiến hóa” của ngọn đèn soi sáng đêm đêm, chắc thời kỳ đèn dầu phộng phải kéo dài tới mấy ngàn năm. Trải mấy ngàn năm, dân mình vẫn nhờ “thập niên đăng hỏa” (trừ anh học trò nghèo quá, tối ra sân đình quét lá bàng, đốt lửa ngồi học) mà đời nào cũng có lực lượng trí thức ra gánh vác việc nước, làm việc hữu ích cho đời, được đời tôn vinh là “Kẻ sĩ”. Không biết có bao nhiêu người tốt vẫn thức thi với đèn, bởi canh cánh một nỗi niềm ưu thời mẫn thế? Không biết có bao nhiêu cảnh ngộ phải nói lời “Chứng tri còn có ngọn đèn” để nhẹ đi phần nào nỗi đau vì oan khuất?... Thơ văn xưa vẫn viết “giấy vắn tình dài, tim lụn đĩa dầu hao…” để mô tả những cuộc tình, cách trở mà luôn nhung nhớ. Thương quá cái nghèo và lòng thơm thảo của người ở quê: đi ăn giỗ đâu cũng bọc theo trong khăn xéo chai dầu phộng, để làm phẩm vật dâng cúng.
      
        Nhẩm đến nay, má mất đã lâu, vậy mà mỗi lần đoàn tụ nhân ngày giỗ má, những đứa con vẫn thích nhắc nhớ về má mình. Nhớ bao nhiêu chuyện, bao nhiêu kỷ niệm với má, trong đó có những bữa cơm thanh đạm: Cơm -  canh rau muống đậu phộng tươi sống giã nhỏ … má nấu, còn thơm phức cho tới bây giờ.

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu               


nông dân đang đói món ăn tinh thần?

“Tới đây chẳng hát thì hò / Há phải con cò ngóng cổ mà nghe” (Ca dao)



                                            

         Ở các nông thôn, người ta lấy hò, hát làm vui, làm món ăn tinh thần, cuộc sống tinh thần.

       Vào các làng quê, ta thường được nghe tiếng hát ru: Mẹ, bà, chị vú em ru giấc ngủ trẻ thơ. Bằng chất giọng trẻ trung, ngọt ngào, giàu cảm xúc, thiếu phụ hát ru con: “Ầu ơ, cái ngủ mày ngủ cho lâu / Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về”, “Ầu ơ, cái ngủ mày ngủ cho ngoan / Khi nào yên việc nước non cha về”…Cảnh đẹp quê hương cũng thường có mặt trong những bài hát ru: “À ơi, con ngủ cho say / Con sáo nó nhảy đường cày kiếm ăn / Mây trên trời dăng xuống cổng thành / À ơi, mai sau ăn học con vẽ tranh quê mình…” để cho ta có quyền tin rằng, tình tự quê hương trong ta đã bắt đầu từ đó. Bà mẹ trẻ “có cảnh ngộ” thường đem cái cảnh ngộ éo le của mình “phổ” vào tiếng hát ru con: “Ầu ơi, cặp chim câu còn đâu đôi mỏ / Đôi lứa mình trời nỡ xui nên / Bây giờ cách trở đôi bên / Phận em em tủi, ầu ơi, thương con mình bơ vơ”…Có ai không sống tuổi thơ của mình, và thủa còn thơ lại không từng nghe tiếng hát ru?
        Bên cạnh tiếng hát ru là các làn điệu hò khoan. Trong lao động, nông dân hay hát, hay hò: “Bao cô thôn nữ hát trên đồi” (Thơ Hàn Mạc Tử). Và đó, vừa là nguyên nhân vừa là môi trường cho sự ra đời các làn điệu hò giã gạo đêm trăng, hò cấy lúa đêm trăng, hò dô ta kéo gỗ trên sông… Hò khoan thường là hò đối đáp giữa một bên nam, một bên nữ.  
        Hò giã gạo diễn ra trong những đêm trăng rải trong làng. Một hàng dài cối gạo lứt vần ra, chày đôi xếp bên cạnh. Tiếng chày rơi, câu hò cất lên. Bên nữ hò: “Bớ anh, bớ chị ta hò / Sáng mai ra ngõ gặp con cò nó bay ngang / Cũng bởi anh có thói chàng ràng / Cho nên tình không bén, nó lỡ làng duyên nhau”. Tức thì bên nam đáp lại: “Này em này chị ta hò / Cho cối gạo trắng, con cò bay xa / Anh thương em, đứng tận đàng xa / Bởi tính anh nhút nhát, sợ mẹ cha em gờm gờm”. Bên nữ cất tiếng: “Ngó lên tháp cổ em hò / Hò mừng anh đến cất câu hò cùng em”. Bên nam “vui vẻ nhận lời”: “Em mời hò thì anh cũng hò / Trên ngọn tháp cổ, ớ hò, ông vua Chiêm ổng ngồi”. Cứ thế, bên nam hát, bên nữ đáp hoặc ngược lại, mà toàn là những bài ứng tác mau lẹ, tài tình lắm. Người ta đã hát cho tới trăng tàn trên cả đồng quê, bao nhiêu cám bay phưởng phất, bao nhiêu cối gạo giã trắng ngời, mới thôi.
        Hò cấy lúa đêm trăng cũng là hò đối đáp. Nhưng chỉ có giọng nữ mà không có giọng nam (vì con trai không biết cấy lúa). Cô thợ cấy này hò mở màn: “Đã mời em, thì em cất tiếng hò / Cái đám ruộng cấy be bờ đêm trăng / Đã thương, thương đến chóp ngọn tháp chín tầng / Không thương đừng đến, nó lằng nhằng khổ nhau”. Chị kia hò nối tiếp: “Con mắt em con mắt dao cau / Nó liếc một cái, đứt mau sợi lông mày / Thương cha mẹ, em không kể tháng ngày / Thương chồng, em thương trọn đời này của em”. Chị em vừa hò vừa cấy mạ non, còn đám ruộng thì lấp loáng ánh trăng.
        Điệu hò trên sông nước cũng rất thân thuộc với đời sống nông thôn. Người ta hò hát để ca ngợi cảnh sông quê khi sương mai dăng mờ, khi trời trưa đứng bóng nắng, khi là một cảnh trăng nước mênh mông, diệu vợi… Nhờ có hò hát mà đò ngang mau tới bến, đò dọc không ngại sông dài để tiếp tục cuộc viễn hành, cho lữ khách với người cùng thuyền nẩy nở một ân tình mới nhen: “Sông trăng chảy giữa đôi bờ / Sậy lau phơ phất, đò đưa trắng buồm / Nghĩa nhân xâu lại thành chuỗi cườm / Anh đeo cổ bậu cho chúng mình đừng quên nhau”, “Cái cổ em trắng ngần /Anh bơi thuyền lẹ, trao chuỗi cườm tặng em / Con sông quê nó chảy êm đềm / Ước gì anh lấy được trăng lưỡi liềm, làm sõng chở em”. Những điệu hò này sẽ mãi mênh mang cùng sông nước. Sông nước không chỉ êm đêm mà còn có thác ghềnh. Người ta còn phải hò để lấy sức mà vững tay chèo chống, nhất là đối với những người chống bè gỗ, bè súc trên sông. Tôi đã có dịp nghe kể về một chuyến đi trên thượng nguồn sông Côn, và người kể đã diễn xướng lại cảnh nhóm chống bè gỗ của ông khi vượt qua một thác nước, rồi một đập nước chận ngang sông: “Dô ta hò / Là hò dô ta / Thác cả mặc thác / Ghềnh cao mặc ghềnh / Ta có sức, bè gỗ phải lên / Anh em ơi ráng sức / Dô ta hò…nè”. “Dô ta, ta hò dô ta / Ta chống bè gỗ / Ta đứng trước đập nước này / Dô ta… ta vượt…dô ta”.
         Ta còn có dân ca các miền: Quan họ Bắc Ninh, ca Huế, bài chòi Miền Trung, hò sông nước Cửu Long …Đó là cái phong phú của bộ môn dân ca mà ông cha ta đã để lại cho ta như một gia tài quý báu.
         Bình Định thuộc Nam Trung Bộ, có dân ca Bài chòi. Nông dân ngồi đâu hô bài chòi đấy, quen miệng rồi, và cũng tại cái “máu” văn nghệ do cha sinh mẹ đẻ. Ngày Tết đến, người ta tổ chức hội đánh bài chòi, thành hội vui xuân trong các làng quê. Trong sân chơi, chín chòi dựng lên, cho người ngồi trên đánh (một hình thức đánh bài ăn tiền, nhưng không ăn thua lớn), người đứng dưới coi, anh hiệu (người diễn xướng, cũng là nông dân) biểu diễn ở giữa sân. Tết Tân Mão – 2011, tôi đi dự hội đánh bài chòi chợ Gò - Tuy Phước với nhà văn Trương Văn Dân và người vợ quốc tịch ITALIA của anh, cô ELENA trẻ đẹp. Khán giả chật sân chơi, hào hứng lắm. Cô bạn người ITALIA nói, cô chưa thông thạo tiếng Việt, nhưng ở đây cô được thưởng thức một nghệ thuật của đại chúng đầy thi vị, hiểu và cảm được bài chòi qua các làn điệu, cử chỉ của anh hiệu. Cô bảo, mình còn thích âm nhạc, nhất là tiếng trống chầu và ông chủ tọa mặc áo thụng xanh bông chữ thọ, đội khăn đóng ngồi nghiêm nghị, cầm roi chầu, đánh ình…ình…điểm câu hát và cũng để tán thưởng anh hiệu. Tới khi mãn cuộc chơi, ra về, ai cũng khen các anh, chị hiệu vừa có tài ứng tác vừa hô hay.
         Nông dân chẳng những mê hát, mê hò khoan, mê dân ca mà còn mê cả hát bội là món văn chương bác học. Người Bình Định nghe đâu có hát bội thì đến, cho nên mới đặt vè: “Rằm giêng hát bội Phò An / Đến ngày mười bảy hát sang chùa Bà / Hai mươi, hăm mốt, hăm ba / Muốn gần Chợ Rượu muốn xa Cảnh Hàng / Chim kêu trên núi Chà Rang / Em đi xem hát giần sàng mốc meo” cho dễ nhớ mà đi xem, khỏi bỏ sót một bữa nào. Bình Định xưa nay vẫn được coi là cái nôi của hát tuồng, một trong những nơi nuôi dưỡng và phát triển nghệ thuật tuồng: Các nhà soạn tuồng trứ danh Nguyễn Diêu, Đào Tấn; đào kép hay Bát Phàn, Bầu Đông, Minh Đức, Ngọc Cầm, Hoàng Chinh…ở đây. Cũng ở đây, đông đảo khán giả say mê tuồng; ra đời một nhà hát mang tên vị hậu tổ tuồng: Nhà hát tuồng Đào Tấn… Trong các lệ cúng tế ở đình làng, bao giờ cũng có hát bội để trước tạ ơn Thành Hoàng, sau đãi bàn dân thiên hạ xem.
         Trên đây, hầu hết những câu hát ru, bài hò, câu ca được dẫn là do chính những người trong cuộc ứng tác, trình diễn mà tác giả bài viết nghe, rồi ghi lại.

        Ngày nay điện lực, đủ thứ máy móc về làng. Cũng theo về làng cả ly cà phê đen, chiếc điện thoại di động… Những thứ này đến thì nhiều cái cũ ra đi, trong đó có các làn điệu cũ đã đánh bạn với nông dân không chừng đến mấy ngàn năm. Hình như chúng không hạp nhau? Vả lại, lao động nông thôn ngày nay không nhàn như hồi xưa. Nông dân ngày nay lao động với máy móc, cặm cụi tối ngày đến quên cả món ăn tinh thần. Dù cho có bài chòi, hát bội là “bạn cố tri” đến, chưa chắc bác nông dân đã dám gác công việc lại để đi xem. Còn chuyện hát hò giã gạo, hát hò cấy lúa đêm trăng ở thời này là chuyện “bất khả thi”. Thảng hoặc có người nhớ bữa, kêu lên: “Mình bị đói món ăn tinh thần”!  

  
    







Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011



Thơ Huỳnh Kim Bửu



nhắn sang bên ấy

Tuổi ấu thơ ta được mẹ ầu ơ:
Con ngoan, con ăn, con ngủ
Cho cha con ở tận đảo xa
Yên lòng canh giữ.

Lớn lên học sử
Ta thuộc bài học Mẹ Âu Cơ
Sinh trăm con trai, con gái
Nuôi lớn khôn đẹp như thơ
Như rối nước, như tranh tố nữ …

50 đứa lên với Trường Sơn phủ
Mây mờ
50 đứa xuống với biển Đông lập nghiệp.

Bây giờ thành nước Việt
Đồng ruộng, núi non
Biển lớn, đảo xa…
Thành Việt Nam gấm vóc.

Ta đã yêu biển Đông
Yêu Việt Nam

Biển nói lời tâm sự:
Cha ông cậu ngày xưa
Sống mặn mòi với biển.

Từng được nghe đảo xa kể chuyện:
Hoàng Sa, Trường Sa
Quan dân đã từng đổ mồ hôi
Chiến sĩ mấy lần đổ máu
Mồ hôi, máu và đảo
Cần lao, bất khuất, thiêng liêng.

Cho nên mấy hôm nay
Lòng ta thật chẳng yên
Biển đảo này bị làm càn làm quấy
Bị cướp ngày, cướp đêm.

Người đừng giỏi khua mồm, uốn lưỡi
Nói đại nghĩa mà làm ác bá cường quyền.
Lịch sử đã từng ghi cho người: Bao phen thua trận.
Đã từng cho người thấy: Không có nước nhỏ, nước to
Chỉ có nước yếu, nước mạnh.
Mạnh nhờ chính nghĩa
Yếu bởi phi nghĩa gian tà.

Cho nên
Ta phải nhắn lời hòa hiếu thật thà
Sang bên ấy…










Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu



Xanh 



Quê hương có đồng xanh, sông trắng, ánh trăng vàng…

Màu quê hương nổi bật hơn cả là màu xanh: xanh mặt đất, xanh chân mây, xanh bầu trời… Màu xanh vẫn được dùng làm biểu trưng cho sự trù phú, yên ả, thanh bình, và cả tương lai, hy vọng của một vùng quê, của quê hương. Ông thợ Tạo thật khéo pha màu: Màu xanh đậm thì ở mặt đất, xanh lơ ở bầu trời, mà thật hài hòa với nhau. Bầu trời xanh lơ là để cho cánh nhạn “lửng da trời” (Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa - Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều), cho “Ngày xuân con én đưa thoi” (Truyện Kiều, Nguyễn Du). Nguyên Sa viết: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng”. Dẫu nhà thơ không nói ra, nhưng chắc ai cũng hiểu, màu áo lụa Hà Đông ấy, phải là màu áo thiên thanh, màu áo xanh da trời!

Trên cái nền màu xanh quê hương rộng rãi, mênh mông, điểm xuyết những màu khác, những mảng màu khác. Có phải là lữ khách trên đường về chiều nay mà anh cảm giác:“Màu chiều khó làm khuây” (Chiều – Hồ DZếnh)? Cái màu chiều lữ khách gặp, đến “khó làm khuây”, tôi chắc phải là màu sương khói ôm phủ một xóm thôn? Không thế, cũng  màu nắng quái chiều hôm và đàn cò trắng trên một đám ruộng nước trắng xóa đang bày ra trước mắt lữ khách?
Thuở mới quen nhau, Hoàng đã đưa Thúy về thăm quê một chuyến. Quê Hoàng dưới chân một ngôi thành cổ đã thành hoang phế đến mấy trăm năm, đã trải qua mấy lần bể dâu trong lịch sử. Cho tới bây giờ, tức là sau mấy chục năm mà ấn tượng của chuyến đi ấy còn in rõ trong Thúy, nó khiến Thúy thường nhung nhớ mà nhắc lại. Bao giờ Thúy cũng nói nhiều nhất về màu xanh ngồn ngộn của đồng lúa tốt tươi, của nương dâu, bãi sắn… nơi quê Hoàng. Cái màu khiến hồn trí Thúy bâng khuâng là màu nâu đỏ gạch nung của những ngôi tháp Chăm, cái màu đỏ như son của những gò đồi đá ong vẫn ứa ra những mạch nước ngầm ngọt ngào, trong mát cho các giếng khơi. Và cả màu trắng của một dòng sông Cái lặng lẽ uốn lượn nơi các cánh đồng, các xóm làng. Hoàng đã nhiều lần chia sẻ cùng mọi người về tình yêu của mình dành cho màu vàng của trăng lạnh lẽo ở ngoài đời và ở trong thi ca của Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan…Thành Bình Định xưa trồng nhiều cây bông gòn. Hình như, nhiều du khách đã đến với thành này cũng đồng tình với Hoàng cái vẻ rất riêng của thành Bình Định: Bông gòn nở trắng trời trên đất thành, bay lả tả, phiếu diểu và có vẻ tinh nghịch mỗi khi đáp nhẹ xuống mái tóc, đôi vai khách bộ hành. Hoàng cũng yêu màu đen sâu thẳm đêm 30 Tết, cái cảm giác rợn người mỗi khi nhìn thấy ánh sao rơi trên những ngọn tháp Chăm chìm trong bóng đêm. Hoàng có niềm vui, quê mình hiện là đất nghề trồng mai xuân. Mỗi lần sang thời tiết cái lạnh cuối năm giảm dần và bắt đầu những ngày nắng mới, màu mai vàng dâng lên rực rỡ đó đây, tạo nên một nét xuân rất An Nhơn ngày nay.

Để có được màu xanh, các thế hệ người dân nơi các làng quê đã phải lao động cực nhọc. Màu xanh quê hương, chính là kết quả có được từ giọt mồ hôi và nước mắt của họ đổ xuống mỗi ngày trên quê hương. Và đó, cũng chính là cuộc sống của họ. Họ nhìn thấy màu xanh quê hương xuyên suốt thời gian, đi suốt từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai, cho nên mới gọi lịch sử của đất nước là sử xanh (thanh sử). Họ kiến tạo và bảo vệ màu xanh. Với tư cách đó, họ yêu chuộng hòa bình, cùng đoàn kết lại dựng xây nên cảnh thanh bình cho đất nước, cảnh no ấm cho nhân dân, họ ca ngợi những triều đại đã viết nên cho đất nước những trang sử vàng chói lọi:“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông (nhà Lê) / Lúa thóc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” (ca dao). Nhưng, những khi chẳng đặng đừng, bị nạn chiến tranh xâm lược cướp phá trên quê hương, thì họ không tiếc gì thân sống mà ra đi chiến đấu đánh đuổi quân thù, dập tắt ngọn lửa chiến tranh để bảo vệ màu xanh cho quê hương. Họ phòng chống thiên tai. Vì thiên tai hạn hán sinh ra cảnh đồng khô cỏ cháy; thiên tai bão lụt sinh ra cảnh sa bồi thủy phá ruộng đồng, làm mất đi màu xanh của sự yên vui, no ấm.

Hồi xưa, đất tha hồ thở, sông êm đềm trôi, cho nên màu xanh quê hương cứ là mênh mang mênh mang, ngồn ngộn ngồn ngộn…Bây giờ, do công cuộc dựng xây, kiến tạo mới: đâu cũng mọc lên những khối bê - tông, những đập thủy điện, những khu công nghiệp, khu dân cư mới…Nếu kể cho hết, còn có một số không ít sân gôn nữa, cũng thi nhau mọc lên như một kẻ “khôn ngoan” biết tùy thời mà ứng xử. Công cuộc kiến tạo mới, nó lan tràn, gấp gáp và rộng khắp quá. Bởi đó, màu xanh quê hương cũng bị nhanh chóng thu hẹp lại, nhỏ bớt đi đáng kể. Và rồi, cái quê hương vốn lắm sắc nhiều màu cũng bị lôi kéo theo mà biến mất cánh buồm trắng trên sông, ngọn khói lam chiều trên mái tranh… Cho dù, chúng cũ kỹ thô sơ thật, nhưng lại là những gì thân quen, gần gũi “mến tay mến chưn” với bao thế hệ con người sinh sống trên dải đất này.






  

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

VƯỜN TƯỢNG LA HÁN NHẬT BẢN
Nhuận Thường
Đã cập nhật: 4 giờ 53 phút


 
Ô kìa...La Hán hàng Long
Ra tay dũng mãnh nhưng lòng ..từ bi
 
Kinh này khó hiểu làm sao
"Ưng vô sở trụ..." nơi  nào sanh tâm ?
Đố ai biết được trong bình...
Đựng bao nhiêu...Nghiệp tử sinh luân hồi

Đệ ngồi mài mực ...rã tay
Để cho huynh viết lời hay ý mầu
 
Đố huynh trong một bát xôi
có bao nhiêu hạt...mồ hôi dân lành?
 
Tóc xanh rồi cũng bạc đầu
Nhưng huynh đệ mãi chung câu ý thiền
 
Ta cười trong ánh nắng tươi
Mà thương nhân thế lắm người tham, sân...
 
Cực Lạc không xa, bởi...rất gần
Khi ta hòa hợp quay quần bên nhau
 
Có khi con mệt, con... nằm
Cũng như Thầy khỏe, thầy chăm ... tọa thiền

Mặc ai đi tới, đi lui
Mình ngồi một chỗ vẫn vui hơn nhiều

 
Cũng là đàn, trống ...vui tai
Nhưng lòng không vướng hình hài thanh âm
Cũng là sáo trúc... thăng trầm
Mà nghe ..sáng tỏ trăng tâm viên thành

 

Lợi danh...quăng bỏ bên đường
Ta vui đùa với...Ểnh ương cũng là...
 
Những lời Phật dạy trong kinh
Hành thâm Bát Nhã ...tử sinh thoát vòng
 
Con voi của đức Phổ Hiền
Sư thúc mượn cưỡi không phiền hà sao?

Sôi kinh nấu sử, hành thiền
Để cho chánh pháp lưu truyền ngàn sau

Sáng nay giáo thọ nghĩ rồi
Đệ huynh đàm đạo bên trời tự do


Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



Cau


    Tản văn của Huỳnh Kim Bửu                                

         Cau
                                   

         Trong các làng quê, cây tre được trồng nhiều nhất, đứng thứ hai là cây cau. Tre trồng thành hàng, thành lũy bao bọc lấy xóm làng, cho người ta gọi cuộc sống trong các làng quê đó là “cuộc sống sau lũy tre làng”. Ít có nhà không trồng cau. Các ngôi nhà vườn, thường trồng cây theo câu nói dân gian: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” để vừa cho khí hậu mát mẻ, vừa cho cảnh quan đẹp, lại cũng vừa cho lợi ích kinh tế.

        Cây cau đẹp thật. Thân cây thẳng, cao. Đọt cau là một khóm tàu lá xanh đậm nổi lên dưới vòm trời xanh lơ. Hồi nhỏ, nhìn tàu cau trên cao, tôi thường bảo đó là chiếc lược trời, rồi chiếc lược má tôi, chị tôi cầm trên tay chải tóc, dắt trên mái đầu kia là những chiếc lược trời thu nhỏ lại. Chim vẫn bay về làm tổ và rộn tiếng ca trên những ngọn tàu cau. Người đi đường, nhìn vào một xóm nhà, thấy hàng cau khi thì lặng yên, khi phất phơ cùng ngọn gió nồm mát mà cảm giác, đó là cảnh yên ả, thanh bình của một miền quê. Người đi xa lâu ngày, trở về, trông cho mau tới chỗ đầu làng để được nhìn thấy hàng cau nhà mình. Ở nông thôn, nhiều nhà trồng cả một vườn cau liên phòng. Mỗi cây cau thường có dây trầu quấn lấy. Cái rễ của dây trầu mọc từ gốc trầu đến đọt trầu vẫn bám chặt vào thân cau, dẫu phải gió mưa cũng không sờn, không rời? Có phải chăng, vì lẽ đó người ta đã lấy trầu cau làm vật nghi lễ cho cưới xin, như muốn nói lên một điều mong muốn bền vững cho lứa đôi? 
       Trồng cau được nhiều lợi ích. Cau trổ buồng về đêm. Một đêm yên tĩnh, cái mo cau rụng xuống, là lúc cái buồng cau và hoa cau nở xòe và tỏa hương thơm cho đêm trường. Cau một năm bốn mùa hoa trái. Mỗi mùa cau, buồng trổ trước được gọi buồng chị, buồng trổ sau gọi buồng em. “Buồng chị - buồng em”, nghe thân thương như mấy chị em nhà nọ! Từ khi cau trổ buồng, người ta theo dõi buồng cau lớn lên mỗi ngày: Thuở đầu là cái “quả cau nho nhỏ / cái vỏ vân vân” (Ca dao), cho tới khi cau chín, vỏ ngã từ màu xanh đậm sang màu đỏ tươi. Chẳng biết bác nông dân nào giỏi liên hệ, đặt tên cho phần chóp của quả cau là cái vú cau? Và lũ trẻ nhỏ các xóm quê vẫn vừa chơi “đánh trổng âm u” vừa hát: “Hú hồ…hú hột / Cơm sốt cơm nhão / Cá đão hồng đơn / Cá sơn, cá diếc / Cá liệt ăn trầu / Bỏ cau bỏ vú / Vú già vú non / Có đứa cầm hòn / Mà u mà chạy / Chạy thẳng vườn cau / Mà ngồi mà nghỉ…” (Đồng dao). Buồng cau không chờ chín mới hái mà hái lúc nào, tùy ở nhu cầu. Vào bữa cưới xin, thì cần một buồng cau xanh, nhưng phải là cau dầy (cau vừa nhai, không phải cau non mà cũng không phải cau già) để xong lễ, theo tục lệ, cầm đi biếu bà con, hàng xóm. Nhai trầu thì nhai cau tươi (cau dầy) hoặc cau khô ngâm nước cho mềm. Gặp khi cau nhiều quá, nhai tươi không hết, thì đem bổ ba, bổ bốn, phơi khô để dành nhai dần.
         Đời là một cuộc đổi thay. Trải nhiều năm nay, lớp người ăn trầu ít dần, cây cau bị bỏ quên. Người ta chỉ trồng cau cảnh, và có ai đó vì “thương hoài ngày xưa” của bà mình, đã không chặt hạ cây cau đứng trong sân. Ngày nay, nghe nói có chỗ thu mua quả cau tươi, cho nên ở vài nông thôn, vài hộ nông dân bắt đầu để ý tới cây cau: cau được trồng và chăm sóc trở lại. Nhớ hồi 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), bộ đội, dân quân sắm ống cau khô, ống muối hột đeo bên hông làm thuốc cứu thương dự phòng, thay thuốc kháng sinh.
        Trên đây mới nói về hữu ích của hột cau. Cây cau, còn bao hữu ích nữa: Thân cau làm cột nhà, bắc cầu phập phù qua mương nước, sả dọc làm đòn tay nhà, chẻ nan đan rá cải, bọc vườn rau, chận lũ gà xộc vào bươi bới. Tàu cau tước lấy sống lá bó chổi, lấy mo làm gàu xách nước (uống cho mát), làm quạt mo quạt phành phạch lúc đêm Hè, nắm cơm dỡ cho người đi đường xa. Nhớ thuở đi học trường Tiểu học xa nhà, sáng nào tôi cũng được má dậy sớm, nấu cơm dỡ, nắm trong mo cau cấp cho tôi mang đi học. Thường, má vẫn gói kèm theo nắm cơm bì muối đỗ (có khi bì muối mè). Tôi cũng không quên kỷ niệm những lần chờ đợi chiếc tàu cau từ màu xanh chuyển sang màu vàng, rụng xuống, để kịp nhặt lấy, làm con ngựa tàu cau cỡi quanh sân nhà mình, rồi quành ra ngõ xóm để chơi với bạn.
         Dầu sao, lợi ích văn hóa, tinh thần của cau mới đáng kể hơn. Từ ngàn xưa, đã có sự tích trầu cau để “vinh danh” một mối tình ngang trái mà chung thủy. Ông bà mình vẫn lấy “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (Tục ngữ) trong mọi lễ nghi, ứng xử, tiếp đãi nhau. Để nên miếng trầu, không thể thiếu miếng cau (vẫn đi với trầu và cả miếng vôi, miếng rễ…). Ông tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo chống Pháp, hồi kháng thuế (1908) ở Bình Định, bị Công sứ Pháp và Tổng đốc Bình Định bắt bỏ tù. Ở trong lao tù chịu nhiều thiếu thốn, ông thường than vãn: “Có miếng trầu mà không miếng cau / Có miếng rễ mà không miếng thuốc” (Vè ông Tiến sĩ). Trong tình yêu nam nữ ngày xưa, không thể thiếu miếng trầu, miếng cau. Nhờ có nó mà tình yêu trở nên thi vị: “Trầu xanh, cau trắng, chay (quả chay) hồng / Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên” (Ca dao) “Nhà em có một giàn giầu / Nhà tôi có một hàng cau liên phòng / Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” (Tương Tư - Nguyễn Bính). Lễ hội mùa Xuân – mời trầu là dịp cho nam nữ thanh niên gặp gỡ và trao nhau duyên mới trong cảnh đất trời tươi đẹp của mùa xuân mới. Xưa nay, cái quạt lông gà của ông quân sư Khổng Minh thì được người ta khen, còn cái quạt mo của mấy ông thầy dùi  bày dại, bị người ta mắng: “Đồ quân sư quạt mo”. Cái quạt mo của thằng Bờm, dẫu xưa mà thời nào cũng có người thích đi tìm một lời giải mã mới cho câu chuyện.
        Chuyện bên lề của cây cau là trèo cau, bẻ buồng. Tôi dám chắc, là trẻ thơ trong các làng quê, ít chú nào không một lần trèo cau. Trèo cau bẻ buồng, thì người lớn không sai bảo, vì sợ nguy hiểm. Nhưng mấy chú bé tinh nghịch vẫn lén người lớn mà trèo cau bắt tổ chim non. Chim sáo, chim sẻ… vẫn làm tổ trên ngọn cây cau. Một tổ chim bị bắt đem đi mất, là trong vườn diễn ra một cảnh chim trời tao tác, bay đi tìm chim non thất lạc, nhưng thường là vô vọng. Người hái cau “không chuyên” tròng cái nài (làm bằng bẹ chuối khô) vào đôi bàn chân mà cứ nhún nhảy tại chỗ, lưng tom lại, hai tay ôm ghì thân cau, mặt ngước nhìn đọt cau, không chịu trèo. Vì anh ta nhát. Trái lại, người trèo cau “chuyên nghiệp”, không cần nài, thoắt cái, anh ta đã ở trên ngọn cây, bẻ buồng, cột dây thả xuống. Trong vườn cau liên phòng rậm rạp, các ngọn cau giao nhau. Bởi đó, người hái cau cứ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn chuyền từ đọt cây cau này sang đọt cây cau kia, khỏi mất công trèo lên tuột xuống nhiều lần. Trẻ con thành phố mà về quê, nhìn thấy anh “thợ” hái cau chuyền trên đọt cây cau, đàng nào cũng liên hệ tới mấy chú khỉ leo trèo không ngớt trong sở thú, trong thảo cầm viên chú thường ra chơi.

         Chợ quê ngày xưa, sắp bày một dãy hàng cau. Người mua đông, vì nam giới, nữ giới đều ăn trầu, biếu trầu, mời trầu nhau. Đến cuối năm là mùa cưới, hàng cau bán khá chạy. Người mua cau cho đám cưới hỏi, thường mua nguyên buồng trăm trái, có dư. Ý chúc cho đôi lứa sánh duyên được câu “Bách niên giai lão” có dư. Người mua cau ăn, mua vài chục trái. Người mua cau sỉ, tính cau bằng thiên (= ngàn) trái. Chắc ngày xưa, ông Biện Nhạc buôn trầu, không khỏi  kèm theo mua sỉ bán lẻ cau tươi? Chọn cau, thường người ta chọn buồng trái mởn đều mà xanh đậm, vú cau tròn đều mướt rượt. Người mua cũng cần bổ cau cho xem hột. Cau được bổ bằng dao cau (con mắt dao cau là con mắt sáng, hay liếc). Cái dao cau thật sắc, bổ cau phải ngọt xớt, không cho bị nhầy nát ruột cau. Trái cau phơi ruột ra đó, cho người xem: trắng, mịn, mềm, vừa nhai, không sâu đục…là cau ngon.

        Những hàng cau, bụi tre, bến nước, mái đình…tạo nên mảnh hồn làng thiêng liêng, người ta lấy đó làm cội nguồn, biết đâu là nguồn cội của mình: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên” (Đây thôn Vỹ Dạ - Hàn Mạc Tử). Quê tôi bây giờ, cũng như nhiều quê khác, cây cau còn lại rất ít và cũng khó gặp người ăn trầu. Tôi nhớ những hàng cau liên phòng, những vườn cau xanh chim chóc bay về.

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011





Thơ Huỳnh Kim Bửu






Sông Côn





Sông Côn chảy qua hồn tôi
Đêm xanh ngát bến Trường Trầu
Chiến thuyền trên sông ken chật
Áo vải cờ đào như mây trôi…

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Những hôm đò đông bối rối
Bên kia sông đêm hát hội
Lớp tôn quân… thương mẹ trễ đò.

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Hàng tre, mái đình soi bóng nước
Giếng đá ong vừa trong vừa mát…(1)
Tiếng ca ai lúm má đồng tiền.

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Ngày trời làm cơn lũ lớn
Có bao nhiêu nhà theo sông trôi
Núi Mò O cũng bồi hồi.

Có những đêm tôi nghe vọng về
Âm vang sông Côn thân thiết
Đời ngược xuôi lên tiếng hát
Mãi trôi cùng sông quê.

(1)Giếng đá ong vừa trong vừa mát
Anh thả gàu sao không múc tình em (Ca dao Bình Định)

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu


Một vùng non nước Hầm Hô
                                             


Từ thị trấn Phú Phong, khách tham quan Bảo tàng Vua Quang Trung có thể làm tiếp chuyến đi của mình bằng cuộc đi chơi Hầm Hô. Hầm Hô cách thị trấn chừng 6 kilômét về phía Nam, được nối bởi con lộ trải bê – tông rộng rãi. Trên con lộ này, du khách sẽ gặp những dòng xe cộ đủ loại (Ô tô du lịch, xe máy…) ngược xuôi với mình, đông nhất vào những ngày cuối tuần, ngày lễ, tết. Du khách có thể vừa đi vừa ngắm cảnh: Sông Đá Hàng một bên; làng xóm và ruộng lúa, ruộng mía một bên. Bạn sẽ thấy ở đây chim mía nhiều lắm, chúng ở trong các đám ruộng mía và ở trên bầu trời, một bầu trời khoáng đãng cho những đám mây kéo nhau bay về dãy núi gần đó.
Thuyền của chúng tôi, hòa vào thuyền của những đoàn khách du lịch khác, nhẹ mái chèo trên mặt nước Hầm Hô. Chúng tôi nhẹ mái chèo, vì sợ khuấy nước mạnh sẽ làm cho những dề hoa lộc vừng nổi dập dềnh trên mặt nước vỡ tan đi. Cảnh Hầm Hô  thực là thủy tú sơn kỳ: nước trong, núi dựng; đôi bờ đá lởm chởm hòn thấp hòn cao, hòn nhọn hòn bằng, hòn lồi hòn lõm, hòn đứng hòn nằm…
Bài trí đó khiến tôi liên tưởng tới hàm răng hô của ông Bếp Độ cổ quái, hết thời đi lính Khố Đỏ, rồi về bán kẹo kéo ở cửa Tây thành Bình Định. Có lẽ vì thế, mà người ta đặt tên ban đầu cho đây là Hầm Răng Hô, về sau trại dần (hay rút gọn) thành Hầm Hô chăng?
         Rồi thuyền xuôi ngược trên dòng suối, khi êm trôi, khi vút nhanh, khi chòng chành, lắc lư, làm chúng tôi vừa thích thú vừa lo sợ. Chúng tôi nói chuyện, trầm trồ khen ngợi những vẻ đẹp của Hầm Hô, nghe nước đổ, chim rừng kêu, thưởng thức mùi thơm của đủ loại hoa rừng tỏa trong không gian. Đến chỗ thác nước đổ nghe ồ… ồ… chúng tôi lại một lần nữa liên hệ đến cái tên Hầm Hô, theo một cách giải thích khác: Nghe nước đổ ồ… ồ… phải hô lên để báo động cho người chèo chống bè súc biết sắp tới chỗ nguy hiểm mà cẩn thận hơn, nhân đó mới đặt tên là Hầm Hô (theo Quách Tấn - Nước non Bình Định).
Chúng tôi bơi thuyền trên Hầm Hô, nghĩ đến bao chuyện cổ tích, huyền tích kỳ thú, hấp dẫn nơi phía thượng nguồn hầm nước sâu và mênh mông tới nghìn mét vuông mặt nước này. Nào chuyện trên đó có cửa Vũ Môn (liên quan đến chuyện thi cử, chọn nhân tài) có ông Khổng Lồ ngồi trên thạch bàn câu cá mà nay còn in dấu chân; nào chuyện nơi đó có chư tiên xuống đánh cờ, có vò rượu uống mãi không cạn, có sông Trời Lấp, có Hòn Đá Thành… Và có ai qua đó đã tức cảnh sinh tình, đặt thành câu ca khắc vào đá mà nay nét chữ còn lờ mờ:
“Hầm Hô có đá Khổng Lồ
Có hang Bảy Cử có vò rượu sôi”
Đi từ nửa buổi sáng đến quá trưa, chúng tôi trở về nhà hàng Hoa Lộc Vừng nghỉ chân. Chỗ ngồi của chúng tôi là bộ bàn ghế đan nan tre nơi nhà vọng cảnh, dựng theo kiểu nhà lục giác, gần “bến thuyền” Hầm Hô đang đậu mấy chiếc thuyền inox và mấy chiếc thuyền nhựa hình vịt bầu, ngỗng, ngan màu trắng…Thuyền đang đợi khách. Hai cô tiếp viên gương mặt sáng như gương, mặc đồng phục, đeo phù hiệu Nhà hàng Hoa Lộc Vừng, đến chào thưa. Một anh bạn khen: “Con gái đất Vua có khác, yểu điệu thục nữ lắm”. Mấy nhà vọng cảnh khác đều đã có khách, nhà kề bên trái chúng tôi có hai người khách Âu Mỹ, một nam một nữ còn rất trẻ.
Nhà hàng phục vụ chủ yếu là các “đặc sản” của Tây Sơn. Anh bạn tôi xem thực đơn, rồi kêu món “khai vị” là chim mía quay, bia Sài Gòn và rượu Bầu Đá. Bụng đói, nhưng chúng tôi ăn uống chậm rãi để thưởng thức. Sau, bạn tôi gọi tiếp món cá mương chiên xù và chim cút rừng quay, ăn với rau sống, bánh tráng nướng chín, bánh tráng sống nhúng nước. Một anh bạn dân Tây Sơn, với tinh thần rất bốc và đầy hứng chí, không ngớt ca ngợi cái phong vị quê nhà: “Tới Tây Sơn mà anh không ăn chim mía là không sành ăn, đi Hầm Hô mà không ăn cá mương, chim cút rừng là chưa biết Hầm Hô”. Con cá mương chiên xù trắng như bông, sắp ngay ngắn trên đĩa sứ men trắng, trông lịch sự làm sao. Cầm miếng bánh tráng nhúng dẻo mềm, cuốn cá mương chiên xù, với rau sống lá lộc vừng non, vừa có vị chát vừa có vị chua, chấm vào đĩa nước mắm vạn Gò Bồi giã ớt tỏi nặn chanh, thì cái ngon nó thấm đến từng tế bào trong cơ thể. Và tất nhiên, anh phải tợp một ngụm rượu Bàu Đá kèm theo để “phát huy” món ngon lên đến tuyệt đỉnh chứ?”.
Hầm Hô nổi tiếng có nhiều chim, cá:
"Hầm Hô nước chảy trong xanh
 Dưới sông cá lội trên cành chim ca"
          (Ca dao Bình Định)
Và chỉ ở đó mới có con cá mương, chim cút rừng và món rau sống lá lộc vừng non. Con cá mương sinh sản ở Hầm Hô, to bằng ngón tay cái, mình thon dài trên dưới 1 tấc. Gọi cá mương, bởi thân hình của nó và cách nó bơi thong thả, lượn lờ trong nước, chứ không phải vì nó là giống cá sinh sản dưới mương nước như người ta vẫn nghĩ. Ăn chim cút rừng nhai rau ráu, thơm ngon hơn hẳn chim cút nuôi. Buổi trưa, Hầm Hô yên tĩnh quá, chỉ có tiếng chim rừng kêu huýt cô, bắt cô trói cột... và mùi hương lộc vừng thoảng thơm. Những cành hoa lộc vừng màu đỏ, dài đến một mét, soi bóng nước Hầm Hô và thả những hoa tàn xuống mặt nước hồ, tạo cho hồ một vẻ ảo diệu lạ thường. Chỉ tiếc là đã sang thu, cho nên chỉ còn hoa lộc vừng nở muộn. Một cô tiếp viên cho biết: “Nếu chúng tôi đến vào dịp hè vừa qua, chắc chắn chúng tôi đã được tận mắt nhìn thấy một mùa hoa lộc vừng đỏ rực trong khu du lịch sinh thái Hầm Hô này”.
Ăn uống và nghỉ ngơi, đến ba giờ chiều chúng tôi đi dạo rừng. Đi trên cầu cong bắc qua con suối, chúng tôi băng qua những tảng đá giống hình trâu nằm, voi phục, để vào cánh rừng chạy dọc theo bờ Tây con suối nhỏ chảy róc rách ra hướng Bắc. Một rừng cổ thụ với những thân cây sù sì, xám xịt quấn dây leo, đính những hoa phong lan hồ điệp, vũ nữ, thủy tiên… đang ra hoa và một ngàn mai, lộc vừng dưới thấp. Đi dạo một hồi, rừng cây bắt đầu sẩm tối. Chim từ đâu bay về tìm chỗ ngủ, từng đôi, từng đôi đậu xuống những cành cây, khóm lá; các loài hoa nở về đêm đã bắt đầu tỏa hương thơm dịu nhẹ.
Chúng tôi giã từ Hầm Hô, xe xổ dốc ra cổng Khu Du lịch. Hồ Thủy tạ ở ngoài cổng, bên trái, đang đông những khách nam nữ thanh niên, chắc là họ đi chơi Hầm Hô một ngày, về nghỉ chân. Ra đến đầu làng Phú Thọ, chúng tôi được chứng kiến một cảnh tượng chiều Trung du tuyệt đẹp: màu sương khói đang buông xuống đôi bờ và mặt nước sông Đá Hàng đổ ra sông Côn cách đó vài kilômét

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu



Có một Quy Nhơn phố cổ


Có một Quy Nhơn phố cổ
Sớm gió hàng dương tối lặng lẽ trăng thềm
Có một Quy Nhơn sân trường rụng lá bàng
Thiếu nữ áo dài đứng sau quầy hàng tủ kính.

Tôi thương nhớ Quy Nhơn phố cổ
Bởi có em tôi nón trắng tóc thề
Bởi tiếng rao đêm hun hút hàng me
“Ai phở?” và “Có ai tầm quất?”.

Tôi thương nhớ Quy Nhơn phố cổ
Nếp ngói âm dương trên phố người Hoa
Mùi cà phê rang thơm nức chiều mưa
Mùi lặng lẽ dạ hương đêm sâu thẳm…