.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Hai, 20 tháng 6, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu



Xanh 



Quê hương có đồng xanh, sông trắng, ánh trăng vàng…

Màu quê hương nổi bật hơn cả là màu xanh: xanh mặt đất, xanh chân mây, xanh bầu trời… Màu xanh vẫn được dùng làm biểu trưng cho sự trù phú, yên ả, thanh bình, và cả tương lai, hy vọng của một vùng quê, của quê hương. Ông thợ Tạo thật khéo pha màu: Màu xanh đậm thì ở mặt đất, xanh lơ ở bầu trời, mà thật hài hòa với nhau. Bầu trời xanh lơ là để cho cánh nhạn “lửng da trời” (Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa - Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều), cho “Ngày xuân con én đưa thoi” (Truyện Kiều, Nguyễn Du). Nguyên Sa viết: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông/ Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng”. Dẫu nhà thơ không nói ra, nhưng chắc ai cũng hiểu, màu áo lụa Hà Đông ấy, phải là màu áo thiên thanh, màu áo xanh da trời!

Trên cái nền màu xanh quê hương rộng rãi, mênh mông, điểm xuyết những màu khác, những mảng màu khác. Có phải là lữ khách trên đường về chiều nay mà anh cảm giác:“Màu chiều khó làm khuây” (Chiều – Hồ DZếnh)? Cái màu chiều lữ khách gặp, đến “khó làm khuây”, tôi chắc phải là màu sương khói ôm phủ một xóm thôn? Không thế, cũng  màu nắng quái chiều hôm và đàn cò trắng trên một đám ruộng nước trắng xóa đang bày ra trước mắt lữ khách?
Thuở mới quen nhau, Hoàng đã đưa Thúy về thăm quê một chuyến. Quê Hoàng dưới chân một ngôi thành cổ đã thành hoang phế đến mấy trăm năm, đã trải qua mấy lần bể dâu trong lịch sử. Cho tới bây giờ, tức là sau mấy chục năm mà ấn tượng của chuyến đi ấy còn in rõ trong Thúy, nó khiến Thúy thường nhung nhớ mà nhắc lại. Bao giờ Thúy cũng nói nhiều nhất về màu xanh ngồn ngộn của đồng lúa tốt tươi, của nương dâu, bãi sắn… nơi quê Hoàng. Cái màu khiến hồn trí Thúy bâng khuâng là màu nâu đỏ gạch nung của những ngôi tháp Chăm, cái màu đỏ như son của những gò đồi đá ong vẫn ứa ra những mạch nước ngầm ngọt ngào, trong mát cho các giếng khơi. Và cả màu trắng của một dòng sông Cái lặng lẽ uốn lượn nơi các cánh đồng, các xóm làng. Hoàng đã nhiều lần chia sẻ cùng mọi người về tình yêu của mình dành cho màu vàng của trăng lạnh lẽo ở ngoài đời và ở trong thi ca của Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan…Thành Bình Định xưa trồng nhiều cây bông gòn. Hình như, nhiều du khách đã đến với thành này cũng đồng tình với Hoàng cái vẻ rất riêng của thành Bình Định: Bông gòn nở trắng trời trên đất thành, bay lả tả, phiếu diểu và có vẻ tinh nghịch mỗi khi đáp nhẹ xuống mái tóc, đôi vai khách bộ hành. Hoàng cũng yêu màu đen sâu thẳm đêm 30 Tết, cái cảm giác rợn người mỗi khi nhìn thấy ánh sao rơi trên những ngọn tháp Chăm chìm trong bóng đêm. Hoàng có niềm vui, quê mình hiện là đất nghề trồng mai xuân. Mỗi lần sang thời tiết cái lạnh cuối năm giảm dần và bắt đầu những ngày nắng mới, màu mai vàng dâng lên rực rỡ đó đây, tạo nên một nét xuân rất An Nhơn ngày nay.

Để có được màu xanh, các thế hệ người dân nơi các làng quê đã phải lao động cực nhọc. Màu xanh quê hương, chính là kết quả có được từ giọt mồ hôi và nước mắt của họ đổ xuống mỗi ngày trên quê hương. Và đó, cũng chính là cuộc sống của họ. Họ nhìn thấy màu xanh quê hương xuyên suốt thời gian, đi suốt từ quá khứ đến hiện tại, đến tương lai, cho nên mới gọi lịch sử của đất nước là sử xanh (thanh sử). Họ kiến tạo và bảo vệ màu xanh. Với tư cách đó, họ yêu chuộng hòa bình, cùng đoàn kết lại dựng xây nên cảnh thanh bình cho đất nước, cảnh no ấm cho nhân dân, họ ca ngợi những triều đại đã viết nên cho đất nước những trang sử vàng chói lọi:“Đời vua Thái Tổ, Thái Tông (nhà Lê) / Lúa thóc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn” (ca dao). Nhưng, những khi chẳng đặng đừng, bị nạn chiến tranh xâm lược cướp phá trên quê hương, thì họ không tiếc gì thân sống mà ra đi chiến đấu đánh đuổi quân thù, dập tắt ngọn lửa chiến tranh để bảo vệ màu xanh cho quê hương. Họ phòng chống thiên tai. Vì thiên tai hạn hán sinh ra cảnh đồng khô cỏ cháy; thiên tai bão lụt sinh ra cảnh sa bồi thủy phá ruộng đồng, làm mất đi màu xanh của sự yên vui, no ấm.

Hồi xưa, đất tha hồ thở, sông êm đềm trôi, cho nên màu xanh quê hương cứ là mênh mang mênh mang, ngồn ngộn ngồn ngộn…Bây giờ, do công cuộc dựng xây, kiến tạo mới: đâu cũng mọc lên những khối bê - tông, những đập thủy điện, những khu công nghiệp, khu dân cư mới…Nếu kể cho hết, còn có một số không ít sân gôn nữa, cũng thi nhau mọc lên như một kẻ “khôn ngoan” biết tùy thời mà ứng xử. Công cuộc kiến tạo mới, nó lan tràn, gấp gáp và rộng khắp quá. Bởi đó, màu xanh quê hương cũng bị nhanh chóng thu hẹp lại, nhỏ bớt đi đáng kể. Và rồi, cái quê hương vốn lắm sắc nhiều màu cũng bị lôi kéo theo mà biến mất cánh buồm trắng trên sông, ngọn khói lam chiều trên mái tranh… Cho dù, chúng cũ kỹ thô sơ thật, nhưng lại là những gì thân quen, gần gũi “mến tay mến chưn” với bao thế hệ con người sinh sống trên dải đất này.






  

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

VƯỜN TƯỢNG LA HÁN NHẬT BẢN
Nhuận Thường
Đã cập nhật: 4 giờ 53 phút


 
Ô kìa...La Hán hàng Long
Ra tay dũng mãnh nhưng lòng ..từ bi
 
Kinh này khó hiểu làm sao
"Ưng vô sở trụ..." nơi  nào sanh tâm ?
Đố ai biết được trong bình...
Đựng bao nhiêu...Nghiệp tử sinh luân hồi

Đệ ngồi mài mực ...rã tay
Để cho huynh viết lời hay ý mầu
 
Đố huynh trong một bát xôi
có bao nhiêu hạt...mồ hôi dân lành?
 
Tóc xanh rồi cũng bạc đầu
Nhưng huynh đệ mãi chung câu ý thiền
 
Ta cười trong ánh nắng tươi
Mà thương nhân thế lắm người tham, sân...
 
Cực Lạc không xa, bởi...rất gần
Khi ta hòa hợp quay quần bên nhau
 
Có khi con mệt, con... nằm
Cũng như Thầy khỏe, thầy chăm ... tọa thiền

Mặc ai đi tới, đi lui
Mình ngồi một chỗ vẫn vui hơn nhiều

 
Cũng là đàn, trống ...vui tai
Nhưng lòng không vướng hình hài thanh âm
Cũng là sáo trúc... thăng trầm
Mà nghe ..sáng tỏ trăng tâm viên thành

 

Lợi danh...quăng bỏ bên đường
Ta vui đùa với...Ểnh ương cũng là...
 
Những lời Phật dạy trong kinh
Hành thâm Bát Nhã ...tử sinh thoát vòng
 
Con voi của đức Phổ Hiền
Sư thúc mượn cưỡi không phiền hà sao?

Sôi kinh nấu sử, hành thiền
Để cho chánh pháp lưu truyền ngàn sau

Sáng nay giáo thọ nghĩ rồi
Đệ huynh đàm đạo bên trời tự do


Thứ Tư, 1 tháng 6, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



Cau


    Tản văn của Huỳnh Kim Bửu                                

         Cau
                                   

         Trong các làng quê, cây tre được trồng nhiều nhất, đứng thứ hai là cây cau. Tre trồng thành hàng, thành lũy bao bọc lấy xóm làng, cho người ta gọi cuộc sống trong các làng quê đó là “cuộc sống sau lũy tre làng”. Ít có nhà không trồng cau. Các ngôi nhà vườn, thường trồng cây theo câu nói dân gian: “Phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối” để vừa cho khí hậu mát mẻ, vừa cho cảnh quan đẹp, lại cũng vừa cho lợi ích kinh tế.

        Cây cau đẹp thật. Thân cây thẳng, cao. Đọt cau là một khóm tàu lá xanh đậm nổi lên dưới vòm trời xanh lơ. Hồi nhỏ, nhìn tàu cau trên cao, tôi thường bảo đó là chiếc lược trời, rồi chiếc lược má tôi, chị tôi cầm trên tay chải tóc, dắt trên mái đầu kia là những chiếc lược trời thu nhỏ lại. Chim vẫn bay về làm tổ và rộn tiếng ca trên những ngọn tàu cau. Người đi đường, nhìn vào một xóm nhà, thấy hàng cau khi thì lặng yên, khi phất phơ cùng ngọn gió nồm mát mà cảm giác, đó là cảnh yên ả, thanh bình của một miền quê. Người đi xa lâu ngày, trở về, trông cho mau tới chỗ đầu làng để được nhìn thấy hàng cau nhà mình. Ở nông thôn, nhiều nhà trồng cả một vườn cau liên phòng. Mỗi cây cau thường có dây trầu quấn lấy. Cái rễ của dây trầu mọc từ gốc trầu đến đọt trầu vẫn bám chặt vào thân cau, dẫu phải gió mưa cũng không sờn, không rời? Có phải chăng, vì lẽ đó người ta đã lấy trầu cau làm vật nghi lễ cho cưới xin, như muốn nói lên một điều mong muốn bền vững cho lứa đôi? 
       Trồng cau được nhiều lợi ích. Cau trổ buồng về đêm. Một đêm yên tĩnh, cái mo cau rụng xuống, là lúc cái buồng cau và hoa cau nở xòe và tỏa hương thơm cho đêm trường. Cau một năm bốn mùa hoa trái. Mỗi mùa cau, buồng trổ trước được gọi buồng chị, buồng trổ sau gọi buồng em. “Buồng chị - buồng em”, nghe thân thương như mấy chị em nhà nọ! Từ khi cau trổ buồng, người ta theo dõi buồng cau lớn lên mỗi ngày: Thuở đầu là cái “quả cau nho nhỏ / cái vỏ vân vân” (Ca dao), cho tới khi cau chín, vỏ ngã từ màu xanh đậm sang màu đỏ tươi. Chẳng biết bác nông dân nào giỏi liên hệ, đặt tên cho phần chóp của quả cau là cái vú cau? Và lũ trẻ nhỏ các xóm quê vẫn vừa chơi “đánh trổng âm u” vừa hát: “Hú hồ…hú hột / Cơm sốt cơm nhão / Cá đão hồng đơn / Cá sơn, cá diếc / Cá liệt ăn trầu / Bỏ cau bỏ vú / Vú già vú non / Có đứa cầm hòn / Mà u mà chạy / Chạy thẳng vườn cau / Mà ngồi mà nghỉ…” (Đồng dao). Buồng cau không chờ chín mới hái mà hái lúc nào, tùy ở nhu cầu. Vào bữa cưới xin, thì cần một buồng cau xanh, nhưng phải là cau dầy (cau vừa nhai, không phải cau non mà cũng không phải cau già) để xong lễ, theo tục lệ, cầm đi biếu bà con, hàng xóm. Nhai trầu thì nhai cau tươi (cau dầy) hoặc cau khô ngâm nước cho mềm. Gặp khi cau nhiều quá, nhai tươi không hết, thì đem bổ ba, bổ bốn, phơi khô để dành nhai dần.
         Đời là một cuộc đổi thay. Trải nhiều năm nay, lớp người ăn trầu ít dần, cây cau bị bỏ quên. Người ta chỉ trồng cau cảnh, và có ai đó vì “thương hoài ngày xưa” của bà mình, đã không chặt hạ cây cau đứng trong sân. Ngày nay, nghe nói có chỗ thu mua quả cau tươi, cho nên ở vài nông thôn, vài hộ nông dân bắt đầu để ý tới cây cau: cau được trồng và chăm sóc trở lại. Nhớ hồi 9 năm kháng chiến (1945 – 1954), bộ đội, dân quân sắm ống cau khô, ống muối hột đeo bên hông làm thuốc cứu thương dự phòng, thay thuốc kháng sinh.
        Trên đây mới nói về hữu ích của hột cau. Cây cau, còn bao hữu ích nữa: Thân cau làm cột nhà, bắc cầu phập phù qua mương nước, sả dọc làm đòn tay nhà, chẻ nan đan rá cải, bọc vườn rau, chận lũ gà xộc vào bươi bới. Tàu cau tước lấy sống lá bó chổi, lấy mo làm gàu xách nước (uống cho mát), làm quạt mo quạt phành phạch lúc đêm Hè, nắm cơm dỡ cho người đi đường xa. Nhớ thuở đi học trường Tiểu học xa nhà, sáng nào tôi cũng được má dậy sớm, nấu cơm dỡ, nắm trong mo cau cấp cho tôi mang đi học. Thường, má vẫn gói kèm theo nắm cơm bì muối đỗ (có khi bì muối mè). Tôi cũng không quên kỷ niệm những lần chờ đợi chiếc tàu cau từ màu xanh chuyển sang màu vàng, rụng xuống, để kịp nhặt lấy, làm con ngựa tàu cau cỡi quanh sân nhà mình, rồi quành ra ngõ xóm để chơi với bạn.
         Dầu sao, lợi ích văn hóa, tinh thần của cau mới đáng kể hơn. Từ ngàn xưa, đã có sự tích trầu cau để “vinh danh” một mối tình ngang trái mà chung thủy. Ông bà mình vẫn lấy “Miếng trầu là đầu câu chuyện” (Tục ngữ) trong mọi lễ nghi, ứng xử, tiếp đãi nhau. Để nên miếng trầu, không thể thiếu miếng cau (vẫn đi với trầu và cả miếng vôi, miếng rễ…). Ông tiến sĩ Hồ Sĩ Tạo chống Pháp, hồi kháng thuế (1908) ở Bình Định, bị Công sứ Pháp và Tổng đốc Bình Định bắt bỏ tù. Ở trong lao tù chịu nhiều thiếu thốn, ông thường than vãn: “Có miếng trầu mà không miếng cau / Có miếng rễ mà không miếng thuốc” (Vè ông Tiến sĩ). Trong tình yêu nam nữ ngày xưa, không thể thiếu miếng trầu, miếng cau. Nhờ có nó mà tình yêu trở nên thi vị: “Trầu xanh, cau trắng, chay (quả chay) hồng / Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên” (Ca dao) “Nhà em có một giàn giầu / Nhà tôi có một hàng cau liên phòng / Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông / Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” (Tương Tư - Nguyễn Bính). Lễ hội mùa Xuân – mời trầu là dịp cho nam nữ thanh niên gặp gỡ và trao nhau duyên mới trong cảnh đất trời tươi đẹp của mùa xuân mới. Xưa nay, cái quạt lông gà của ông quân sư Khổng Minh thì được người ta khen, còn cái quạt mo của mấy ông thầy dùi  bày dại, bị người ta mắng: “Đồ quân sư quạt mo”. Cái quạt mo của thằng Bờm, dẫu xưa mà thời nào cũng có người thích đi tìm một lời giải mã mới cho câu chuyện.
        Chuyện bên lề của cây cau là trèo cau, bẻ buồng. Tôi dám chắc, là trẻ thơ trong các làng quê, ít chú nào không một lần trèo cau. Trèo cau bẻ buồng, thì người lớn không sai bảo, vì sợ nguy hiểm. Nhưng mấy chú bé tinh nghịch vẫn lén người lớn mà trèo cau bắt tổ chim non. Chim sáo, chim sẻ… vẫn làm tổ trên ngọn cây cau. Một tổ chim bị bắt đem đi mất, là trong vườn diễn ra một cảnh chim trời tao tác, bay đi tìm chim non thất lạc, nhưng thường là vô vọng. Người hái cau “không chuyên” tròng cái nài (làm bằng bẹ chuối khô) vào đôi bàn chân mà cứ nhún nhảy tại chỗ, lưng tom lại, hai tay ôm ghì thân cau, mặt ngước nhìn đọt cau, không chịu trèo. Vì anh ta nhát. Trái lại, người trèo cau “chuyên nghiệp”, không cần nài, thoắt cái, anh ta đã ở trên ngọn cây, bẻ buồng, cột dây thả xuống. Trong vườn cau liên phòng rậm rạp, các ngọn cau giao nhau. Bởi đó, người hái cau cứ nhẹ nhàng, nhanh nhẹn chuyền từ đọt cây cau này sang đọt cây cau kia, khỏi mất công trèo lên tuột xuống nhiều lần. Trẻ con thành phố mà về quê, nhìn thấy anh “thợ” hái cau chuyền trên đọt cây cau, đàng nào cũng liên hệ tới mấy chú khỉ leo trèo không ngớt trong sở thú, trong thảo cầm viên chú thường ra chơi.

         Chợ quê ngày xưa, sắp bày một dãy hàng cau. Người mua đông, vì nam giới, nữ giới đều ăn trầu, biếu trầu, mời trầu nhau. Đến cuối năm là mùa cưới, hàng cau bán khá chạy. Người mua cau cho đám cưới hỏi, thường mua nguyên buồng trăm trái, có dư. Ý chúc cho đôi lứa sánh duyên được câu “Bách niên giai lão” có dư. Người mua cau ăn, mua vài chục trái. Người mua cau sỉ, tính cau bằng thiên (= ngàn) trái. Chắc ngày xưa, ông Biện Nhạc buôn trầu, không khỏi  kèm theo mua sỉ bán lẻ cau tươi? Chọn cau, thường người ta chọn buồng trái mởn đều mà xanh đậm, vú cau tròn đều mướt rượt. Người mua cũng cần bổ cau cho xem hột. Cau được bổ bằng dao cau (con mắt dao cau là con mắt sáng, hay liếc). Cái dao cau thật sắc, bổ cau phải ngọt xớt, không cho bị nhầy nát ruột cau. Trái cau phơi ruột ra đó, cho người xem: trắng, mịn, mềm, vừa nhai, không sâu đục…là cau ngon.

        Những hàng cau, bụi tre, bến nước, mái đình…tạo nên mảnh hồn làng thiêng liêng, người ta lấy đó làm cội nguồn, biết đâu là nguồn cội của mình: “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên” (Đây thôn Vỹ Dạ - Hàn Mạc Tử). Quê tôi bây giờ, cũng như nhiều quê khác, cây cau còn lại rất ít và cũng khó gặp người ăn trầu. Tôi nhớ những hàng cau liên phòng, những vườn cau xanh chim chóc bay về.

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2011





Thơ Huỳnh Kim Bửu






Sông Côn





Sông Côn chảy qua hồn tôi
Đêm xanh ngát bến Trường Trầu
Chiến thuyền trên sông ken chật
Áo vải cờ đào như mây trôi…

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Những hôm đò đông bối rối
Bên kia sông đêm hát hội
Lớp tôn quân… thương mẹ trễ đò.

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Hàng tre, mái đình soi bóng nước
Giếng đá ong vừa trong vừa mát…(1)
Tiếng ca ai lúm má đồng tiền.

Sông Côn chảy qua hồn tôi
Ngày trời làm cơn lũ lớn
Có bao nhiêu nhà theo sông trôi
Núi Mò O cũng bồi hồi.

Có những đêm tôi nghe vọng về
Âm vang sông Côn thân thiết
Đời ngược xuôi lên tiếng hát
Mãi trôi cùng sông quê.

(1)Giếng đá ong vừa trong vừa mát
Anh thả gàu sao không múc tình em (Ca dao Bình Định)

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu


Một vùng non nước Hầm Hô
                                             


Từ thị trấn Phú Phong, khách tham quan Bảo tàng Vua Quang Trung có thể làm tiếp chuyến đi của mình bằng cuộc đi chơi Hầm Hô. Hầm Hô cách thị trấn chừng 6 kilômét về phía Nam, được nối bởi con lộ trải bê – tông rộng rãi. Trên con lộ này, du khách sẽ gặp những dòng xe cộ đủ loại (Ô tô du lịch, xe máy…) ngược xuôi với mình, đông nhất vào những ngày cuối tuần, ngày lễ, tết. Du khách có thể vừa đi vừa ngắm cảnh: Sông Đá Hàng một bên; làng xóm và ruộng lúa, ruộng mía một bên. Bạn sẽ thấy ở đây chim mía nhiều lắm, chúng ở trong các đám ruộng mía và ở trên bầu trời, một bầu trời khoáng đãng cho những đám mây kéo nhau bay về dãy núi gần đó.
Thuyền của chúng tôi, hòa vào thuyền của những đoàn khách du lịch khác, nhẹ mái chèo trên mặt nước Hầm Hô. Chúng tôi nhẹ mái chèo, vì sợ khuấy nước mạnh sẽ làm cho những dề hoa lộc vừng nổi dập dềnh trên mặt nước vỡ tan đi. Cảnh Hầm Hô  thực là thủy tú sơn kỳ: nước trong, núi dựng; đôi bờ đá lởm chởm hòn thấp hòn cao, hòn nhọn hòn bằng, hòn lồi hòn lõm, hòn đứng hòn nằm…
Bài trí đó khiến tôi liên tưởng tới hàm răng hô của ông Bếp Độ cổ quái, hết thời đi lính Khố Đỏ, rồi về bán kẹo kéo ở cửa Tây thành Bình Định. Có lẽ vì thế, mà người ta đặt tên ban đầu cho đây là Hầm Răng Hô, về sau trại dần (hay rút gọn) thành Hầm Hô chăng?
         Rồi thuyền xuôi ngược trên dòng suối, khi êm trôi, khi vút nhanh, khi chòng chành, lắc lư, làm chúng tôi vừa thích thú vừa lo sợ. Chúng tôi nói chuyện, trầm trồ khen ngợi những vẻ đẹp của Hầm Hô, nghe nước đổ, chim rừng kêu, thưởng thức mùi thơm của đủ loại hoa rừng tỏa trong không gian. Đến chỗ thác nước đổ nghe ồ… ồ… chúng tôi lại một lần nữa liên hệ đến cái tên Hầm Hô, theo một cách giải thích khác: Nghe nước đổ ồ… ồ… phải hô lên để báo động cho người chèo chống bè súc biết sắp tới chỗ nguy hiểm mà cẩn thận hơn, nhân đó mới đặt tên là Hầm Hô (theo Quách Tấn - Nước non Bình Định).
Chúng tôi bơi thuyền trên Hầm Hô, nghĩ đến bao chuyện cổ tích, huyền tích kỳ thú, hấp dẫn nơi phía thượng nguồn hầm nước sâu và mênh mông tới nghìn mét vuông mặt nước này. Nào chuyện trên đó có cửa Vũ Môn (liên quan đến chuyện thi cử, chọn nhân tài) có ông Khổng Lồ ngồi trên thạch bàn câu cá mà nay còn in dấu chân; nào chuyện nơi đó có chư tiên xuống đánh cờ, có vò rượu uống mãi không cạn, có sông Trời Lấp, có Hòn Đá Thành… Và có ai qua đó đã tức cảnh sinh tình, đặt thành câu ca khắc vào đá mà nay nét chữ còn lờ mờ:
“Hầm Hô có đá Khổng Lồ
Có hang Bảy Cử có vò rượu sôi”
Đi từ nửa buổi sáng đến quá trưa, chúng tôi trở về nhà hàng Hoa Lộc Vừng nghỉ chân. Chỗ ngồi của chúng tôi là bộ bàn ghế đan nan tre nơi nhà vọng cảnh, dựng theo kiểu nhà lục giác, gần “bến thuyền” Hầm Hô đang đậu mấy chiếc thuyền inox và mấy chiếc thuyền nhựa hình vịt bầu, ngỗng, ngan màu trắng…Thuyền đang đợi khách. Hai cô tiếp viên gương mặt sáng như gương, mặc đồng phục, đeo phù hiệu Nhà hàng Hoa Lộc Vừng, đến chào thưa. Một anh bạn khen: “Con gái đất Vua có khác, yểu điệu thục nữ lắm”. Mấy nhà vọng cảnh khác đều đã có khách, nhà kề bên trái chúng tôi có hai người khách Âu Mỹ, một nam một nữ còn rất trẻ.
Nhà hàng phục vụ chủ yếu là các “đặc sản” của Tây Sơn. Anh bạn tôi xem thực đơn, rồi kêu món “khai vị” là chim mía quay, bia Sài Gòn và rượu Bầu Đá. Bụng đói, nhưng chúng tôi ăn uống chậm rãi để thưởng thức. Sau, bạn tôi gọi tiếp món cá mương chiên xù và chim cút rừng quay, ăn với rau sống, bánh tráng nướng chín, bánh tráng sống nhúng nước. Một anh bạn dân Tây Sơn, với tinh thần rất bốc và đầy hứng chí, không ngớt ca ngợi cái phong vị quê nhà: “Tới Tây Sơn mà anh không ăn chim mía là không sành ăn, đi Hầm Hô mà không ăn cá mương, chim cút rừng là chưa biết Hầm Hô”. Con cá mương chiên xù trắng như bông, sắp ngay ngắn trên đĩa sứ men trắng, trông lịch sự làm sao. Cầm miếng bánh tráng nhúng dẻo mềm, cuốn cá mương chiên xù, với rau sống lá lộc vừng non, vừa có vị chát vừa có vị chua, chấm vào đĩa nước mắm vạn Gò Bồi giã ớt tỏi nặn chanh, thì cái ngon nó thấm đến từng tế bào trong cơ thể. Và tất nhiên, anh phải tợp một ngụm rượu Bàu Đá kèm theo để “phát huy” món ngon lên đến tuyệt đỉnh chứ?”.
Hầm Hô nổi tiếng có nhiều chim, cá:
"Hầm Hô nước chảy trong xanh
 Dưới sông cá lội trên cành chim ca"
          (Ca dao Bình Định)
Và chỉ ở đó mới có con cá mương, chim cút rừng và món rau sống lá lộc vừng non. Con cá mương sinh sản ở Hầm Hô, to bằng ngón tay cái, mình thon dài trên dưới 1 tấc. Gọi cá mương, bởi thân hình của nó và cách nó bơi thong thả, lượn lờ trong nước, chứ không phải vì nó là giống cá sinh sản dưới mương nước như người ta vẫn nghĩ. Ăn chim cút rừng nhai rau ráu, thơm ngon hơn hẳn chim cút nuôi. Buổi trưa, Hầm Hô yên tĩnh quá, chỉ có tiếng chim rừng kêu huýt cô, bắt cô trói cột... và mùi hương lộc vừng thoảng thơm. Những cành hoa lộc vừng màu đỏ, dài đến một mét, soi bóng nước Hầm Hô và thả những hoa tàn xuống mặt nước hồ, tạo cho hồ một vẻ ảo diệu lạ thường. Chỉ tiếc là đã sang thu, cho nên chỉ còn hoa lộc vừng nở muộn. Một cô tiếp viên cho biết: “Nếu chúng tôi đến vào dịp hè vừa qua, chắc chắn chúng tôi đã được tận mắt nhìn thấy một mùa hoa lộc vừng đỏ rực trong khu du lịch sinh thái Hầm Hô này”.
Ăn uống và nghỉ ngơi, đến ba giờ chiều chúng tôi đi dạo rừng. Đi trên cầu cong bắc qua con suối, chúng tôi băng qua những tảng đá giống hình trâu nằm, voi phục, để vào cánh rừng chạy dọc theo bờ Tây con suối nhỏ chảy róc rách ra hướng Bắc. Một rừng cổ thụ với những thân cây sù sì, xám xịt quấn dây leo, đính những hoa phong lan hồ điệp, vũ nữ, thủy tiên… đang ra hoa và một ngàn mai, lộc vừng dưới thấp. Đi dạo một hồi, rừng cây bắt đầu sẩm tối. Chim từ đâu bay về tìm chỗ ngủ, từng đôi, từng đôi đậu xuống những cành cây, khóm lá; các loài hoa nở về đêm đã bắt đầu tỏa hương thơm dịu nhẹ.
Chúng tôi giã từ Hầm Hô, xe xổ dốc ra cổng Khu Du lịch. Hồ Thủy tạ ở ngoài cổng, bên trái, đang đông những khách nam nữ thanh niên, chắc là họ đi chơi Hầm Hô một ngày, về nghỉ chân. Ra đến đầu làng Phú Thọ, chúng tôi được chứng kiến một cảnh tượng chiều Trung du tuyệt đẹp: màu sương khói đang buông xuống đôi bờ và mặt nước sông Đá Hàng đổ ra sông Côn cách đó vài kilômét

Thứ Sáu, 20 tháng 5, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu



Có một Quy Nhơn phố cổ


Có một Quy Nhơn phố cổ
Sớm gió hàng dương tối lặng lẽ trăng thềm
Có một Quy Nhơn sân trường rụng lá bàng
Thiếu nữ áo dài đứng sau quầy hàng tủ kính.

Tôi thương nhớ Quy Nhơn phố cổ
Bởi có em tôi nón trắng tóc thề
Bởi tiếng rao đêm hun hút hàng me
“Ai phở?” và “Có ai tầm quất?”.

Tôi thương nhớ Quy Nhơn phố cổ
Nếp ngói âm dương trên phố người Hoa
Mùi cà phê rang thơm nức chiều mưa
Mùi lặng lẽ dạ hương đêm sâu thẳm…

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu



Nội đi chùa


Nội đi lễ chùa
Đi cùng với tràng hạt
Gậy tre, tóc bạc…
Lòng con thương Nội:
Già còn có cửa chùa (1).

Nếp chùa in trên hình đất nước
Mọc trên trời sao Cày, sao Rua…
Mọc mặt đất những làng quê xanh lúa, xanh ngô
Nở trước ngõ mỗi nhà: bông trang, bông bụt…

Nội đi lễ chùa
Câu kinh Phật A Di Đà dịu mát
Hương ngọc lan thơm ngát
Theo Nội nẻo về…

(1) “Trẻ vui nhà già vui chùa” (Tục ngữ)




Thứ Năm, 12 tháng 5, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu



Thành phố của tôi:
Biển – Mặt trời và Ngày




Bộ ba nhịp điệu cuộc đời
Biển của những ngư dân ra lộng ra khơi
Những người đi tắm biển
Những người thích ngắm biển xanh…

Ngày của những công nhân khu công nghiệp
Những chị hàng rong
Những thanh niên uống cà phê quán vườn
Và chơi cờ tướng.

Mặt trời của những hồ sen
Những chùm bông giấy ngũ sắc
Những bóng chiều vàng vọt
Trên những tháp Chăm.

Biển – Mặt trời và Ngày
Bộ ba nhịp điệu mê say
Sáng nay những chùm bông giấy
Nở trong khu vườn nắng đầy.

Lập Hạ - 2011







Thơ Huỳnh Kim Bửu




Vẫn mỗi ngày


Vẫn mỗi ngày đi ra với biển
Chỉ thấy gió thổi xanh bờ
Vẫn hạt cát trôi bơ vơ
Không thấy đâu em: Biển mặn…

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Những cuốn sách và nông dân xưa
 

                                       

          Ngày xưa, cái học “thiên kinh vạn quyển”, chắc là cái học ở chốn kinh thành, ở nơi có các trường thi dành cho các sĩ tử “cướp cờ, cướp biển”, như ở quê tôi có trường thi Hương Bình Định. Chứ còn ở các vùng nông thôn thì cái học trường lớp hiếm hoi lắm, số người đi học ít mà sách cũng ít.

         Sách Tam thiên tự (tác giả Đoàn Trung Còn) dạy vỡ lòng chữ Nho. Trẻ con nông thôn học ông thầy đồ ở trong làng sách Tam thiên tự với những câu: “Thiên – trời, địa – đất, cử - cất, tồn – còn, tử - con, tôn – cháu”…Ai học hết sách thì có vốn 3000 từ làm “hành trang” buổi đầu đi học. Nhiều trẻ con học chưa hết sách đã phải nghỉ học, vì nhà nghèo, cần ở nhà giúp đỡ cha mẹ. Những trẻ này tới khi lớn lên thành anh trai làng, bác nông dân, nhờ chút học đó, mà không bị xấu hổ, vì: Không biết được chữ Nhất là một.
         Tam tự kinh (Sách ba chữ, do Vương Ứng Lân, Trung Quốc biên soạn) tập hợp những tinh hoa của Nho giáo. Ở trong các làng quê xưa, nhiều bác nông dân vừa mới rửa chân tay cho sạch bùn đất để đi ăn giỗ, nhưng đã ngồi vào cỗ là “nói chữ”, “xổ Nho”: từ “Nhân chi sơ Tánh bản thiện. Tính tương cận Tập tương viễn” (Người thuở đầu, tánh vốn lành. Tánh nhau gần, thói nhau xa.)…đến “Dưỡng bất giáo Phụ chi quá Giáo bất nghiêm Sư chi đọa”: (Sinh không dạy, lỗi ở cha. Dạy không nghiêm, lỗi tại thầy). Cảnh ngồi cỗ giỗ mà đối đáp, rượu vào lời ra thế cũng vui, thường khi làm được việc giáo hóa điều gì đó.  Từ “xổ Nho” (cũng nói xổ Nho chùm) cũng có ý thầm phục: Các vị có học đàng hoàng, có Hán rộng!
          Sách Minh tâm bảo giám (tác giả Trương Vĩnh Ký) được nông dân thích học, cứ bảo: “Đó là gương báu soi lòng”.  Nhiều câu trong sách Minh Tâm nghe nói hoài giống như ăn cơm bữa, và sớm nhập tâm, trở thành nếp sống, nếp nghĩ của mọi người: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác Thiện hữu thiện báo Ác hữu ác báo” (Chứa lành thì gặp lành, chứa ác gặp ác. Thiện có lành báo, ác có dữ báo). Rồi những câu khuyên dạy: “Phàm nhơn bá nghệ hảo tùy thân / đổ bác môn trung mạc khứ thân / năng sử anh hùng vi hạ tiện/ giải giao phú quý tác cơ bần”…(Hễ biết nghề nào cũng ấm thân. Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.  Anh hùng mắc phải ra hèn hạ. Phú quý lâm rồi lại khó khăn)… Rất phổ cập, đến thành bài học, thành “câu hát” mùi mẫn ở trong các làng quê.
           Trên là những sách “giáo khoa” nông dân ít nhiều có thời trẻ thơ được học với ông thầy đồ hoặc với cha, anh ở nhà.
          Tứ thư, Ngũ kinh là những sách dành cho nho sĩ. Những nho sinh, sĩ tử có mộng khoa danh thì cố “ôn nhuần kinh sử”. Còn đa số nông dân, nhờ cuộc sống làng quê có sự chung đụng giữa nho sĩ và nông dân mà kiến thức được chia sẻ cho nhau. Nông dân vẫn “nói chữ”: “Quân quân thần thần phụ phụ tử tử” (Vua -  tôi, cha – con, ai có bổn phận nấy - Luận ngữ ) mỗi khi muốn nhắc nhở cái bổn phận phải lo cho tròn, cái quan hệ, kỷ cương phải giữ. Ngoại tôi là nông dân, ông đã chọn một câu hay trong Kinh Thi: “Quan Quan Thư Cưu Tại Hà Chi Châu Yểu Điệu Thục Nữ Quân Tử Hảo Cầu” (Chim thư cưu kêu quan quan… trên cồn sông Hoàng Hà. Gặp người gái đẹp, quân tử phải lòng) mà đặt tên cho các người con của Ngoại. Ngoại có 16 người con trai gái, má tôi thứ 8 xinh đẹp, trúng tên Châu: Nguyễn Thị Minh Châu, cũng đẹp.

          Sau này, hết thời chữ Hán lâu đến ngàn năm bước sang thời chữ Quốc ngữ mới ra đời.
         Đại Nam quốc sử diễn ca (của Phạm Đình Toái) được dạy ở trường Tiểu học. Vẫn thường vang vọng trong xóm thôn tiếng ôn tập bài học của các học trò trường Huyện. Khi thì: “Hùng vương đô ở Châu Phong / Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang / Đặt tên là nước Văn Lang / Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền…”.  Khi thì: “Bà Trưng quê ở Châu Phong / Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên / Chị em nặng một lời nguyền…”.  
         Đến sách Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT – nhóm ông Trần Trọng Kim biên soạn), được những “nông dân” ấu thơ học với cả lòng hứng thú. Bài nào học cũng mau thuộc, mau nhớ. Bài Rắn đầu biếng học (của Lê Quý Đôn): “Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! / Rắn đầu biếng học quyết không tha / Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ / Nay thét, mai gầm rát cổ cha…” là một trong những bài trong sách được học một lần là nhớ cả đời. Người ta nói, có “tình nghĩa giáo khoa thư” để chỉ cho tình bạn, tình huynh đệ giữa những người cùng học chung cuốn sách đó. Chẳng bao lâu, những chú bé học trò ngày trước học QVGKT trở thành các bác nông dân thuộc sử nước nhà, biết cảm thụ, biết thế nào là một bài văn hay.
        Từ nhỏ tới lớn, ta vẫn nghe ông cha cứ dặn bảo “Học làm người”, bài học cần học cả đời. Và ai cũng biết cái phẩm chất bao trùm của làm người là hiếu thảo, cho nên những nhà chứa sách (tích thư) đều có cuốn Nhị thập tứ hiếu (tác giả Lý Văn Phức). Bác nông dân nhân khi nhàn rỗi, vẫn ngồi đó “giảng sách” Nhị thập tứ hiếu cho con cháu nghe mà cũng là dịp cho chính mình ôn lại: “Người tai mắt đứng trong trời đất / Ai là không cha mẹ sinh thành / Gương treo, đất nghĩa trời kinh / Ở sao cho xứng chút tình làm con…”…vẫn kể rành rẽ 24 gương hiếu cảm động trời đất được ghi trong sách cũng như được truyền khẩu trong dân gian. Trong xóm thôn, những nhân vật Tử Lộ, Mẫn Tử Khiên… hình như ai cũng biết.
         Bên cạnh cuốn Nhị thập tứ hiếu, trên giá sách của các gia đình, còn có quyển Gia huấn ca. Từ khi quan đại thần Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca, trong cả nước (Đại Việt hồi đó, nước Việt sau này), thì nhà nhà đọc, nhà nhà dạy Gia huấn ca. Người ta hứng hát, ngồi không với nhau hát: “Đặt quyển sách vắt tay nằm nghĩ / Hễ làm người dạy kỹ thì nên”. Người nông dân vẫn bảo “Dạy con từ thuở còn thơ…”. Thực là ông cha ta đã đề cao vai trò quan trọng bậc nhất của giáo dục.

         Tuy không thiên kinh vạn quyển như đã nói, nhưng bằng mấy cuốn sách đó, kết hợp với kinh nghiệm bản thân, nông dân đã nâng cao kiến thức, học được bao điều lợi ích. Không ai nghi ngờ chuyện nông dân thuộc Sử Việt, trong tâm thức nông dân có niềm tự hào lịch sử nước nhà có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung…Nông dân không cục mịch như người ta tưởng mà trái lại họ có một tâm hồn đa cảm, luôn tìm đến với văn chương – nghệ thuật. Người ta vẫn ham thích đọc tiểu thuyết chương hồi (Trung Quốc), văn biền ngẫu, truyện cười dân gian… bằng cách ai biết chữ thì đọc, ai không biết đọc biết viết thì nhờ con cháu đọc cho nghe. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn viết về phong tục, chuyện tình đôi lứa không thành; thơ Tiền chiến viết về đồng quê của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ… vẫn đem lại sự yêu thích cho các nông dân biết đọc biết viết. Nông dân ta chẳng những đọc sách, “giảng sách”, “nghe sách” mà còn là người sáng tác nữa. Ca dao, dân ca, hò vè …là sáng tác đầy hứng thú từ những tâm hồn yêu thương, trong trẻo của nông dân.

         Bây giờ xin hỏi, nhờ đâu mà những cuốn sách xưa phổ cập tới những người nông dân sống trong các làng quê hẻo lánh như vậy? Chắc là trong các nguyên nhân được nêu ra, có nguyên nhân tôi cho không thể thiếu: Đó là sách hay, sách đem lại cho người ta cái thú đọc sách.

        Ngày nay, có ai về nông thôn (giữa thời buổi nhiều sách báo, có tủ sách xã thôn), mà tìm một nông dân thuộc năm ba câu Kiều, vài đoạn Lục Vân Tiên, biết chuyện Nỏ thần An Dương vương, Thánh Dóng…để cùng nhau hào hứng “trà dư tửu hậu” thì thật khó quá. Cái “thú đọc sách” (Trước đèn xem truyện Tây Minh – Lục Vân Tiên), cái từ “nghe sách”, “giảng sách”, rất quen hồi xưa, nay cũng không còn trông thấy, nghe thấy nữa.