.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Sáu, 31 tháng 8, 2012


VỀ HKB

  NHÂN ĐỌC “ TRONG NHƯ TIẾNG HAC BAY QUA”

         NHỚ BẠN HIỀN...

     Tạp Bút :
    Mang Viên Long


      Trong Như Tiếng Hạc Bay Qua” là tập tản văn & bút ký thứ 2 ( tác phẩm thứ 3) của Huỳnh Kim Bửu vừa được nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn hành vào quý 3 năm 2011. Tác phẩm đầu tay là: ”Nơi Con Sông Côn Chảy Qua” (nhà XB Trẻ 2009). Tôi đã được đọc cả hai tập tản văn & bút ký này của anh bởi chúng tôi vẫn thường gặp nhau và gởi tặng “quà sách” cho nhau như một niềm vui, niềm an ủi cần chia sẻ trong cái phố thị nhỏ hẹp buồn hiu này
        Vẫn giọng văn trong sáng, giản dị, và thâm trầm – HKB đã nhẩn nha, đã tẩn mẩn, đã thong dong ghi lại những điều quanh anh ( cả quá khứ & hiện tại) một cách thích thú và chăm chỉ! Anh từ tốn, chậm rải, có chút trang trọng nhớ thương trong hoài niệm để miệt mài ngày đêm bên trang viết - đi hết những khắc ghi nầy, đến sự mô tả kia – những gì đã cho anh một thời quan tâm, gắn bó, sồng và nhớ đến như một điều không thể nào quên trong đời. Đọc văn anh – những bài bút ký về những đề tài hết sức gần gũi, có thể nói là tầm thường ( như cái chõng tre, cái phản, cái ao làng. cái nhà bếp. bộ ngựa gõ, cho đến ổ bánh mì nòng giòn, cau, gác trọ…) – nhưng tôi luôn luôn “tủm tỉm cười” vì sự thích thú, đôi khi ngạc nhiên vì sự tế nhị chăm chút tỉ mỉ của anh để làm cho những gì “đã chết đi” sống trở lại tươi mát và mới lạ!
         Bên cạnh những bài bút ký ghi đậm tính chất của “hoài niệm”và “tư liệu” được anh khéo léo (và trầm tĩnh) trình bày – là những  bài tản văn mượt mà hơn, dung dị và tinh tế hơn – đã được HKB “kể lại” như lời thì thầm trò chuyên thân tình.( nào là: kỷ niệm chiều, thưa mẹ quê xưa, ngồi buồn nhớ những rạ rơm, chim kêu dưới suối Từ Bi, tản mạn buổi Thu sang, cho đến đêm Xuân Hòa còn nghe tiếng vó ngựa Tây Sơn, quê nhà, nắng mới vân vân), Bốn mươi bốn bài tản văn ( & Bút ký) trong Trong Như Tiếng Hạc Bay Qua” là một cuộc hành trình dài đầy thú vị đưa đẩy người đọc “sống lại & nhớ thương” bao kỷ niêm thời vàng son xa cũ, dồng thời truyền đến hơi ấm đậm đà của quê nhà, của nghĩa tình qua bao đổi thay dâu bể!
          Theo thiển ý của tôi – một bạn văn & bạn đọc, thì ở Bình Định -ngoài nhà văn lão thành kỳ cựu Võ Phiến HKB là một trong vài người đã viết bút ký thành công với lòng đam mê hiến dâng, cùng sự kiên nhẫn cao độ cho dầu anh đã qua khỏi lớp tuổi “xưa nay hiếm”= là một điều  rất đáng trân trọng.
          Có một điều lạ lùng là mỗi khi đọc văn anh ( tản văn hay bút ký), tôi như hình dung ra được con người anh, đang gặp anh, đang được nghe anh từ tốn kể chuyện vậy! Hình ảnh anh hiện ra cùng trang viết êm nhẹ, tươi mát, mời gọi. Tôi “biết” anh (cũng như anh “biết tôi”) từ những năm trước 75 khi anh đang dạy học ở Phú Phong, còn tôi đang dạy học mãi tận Tuy Hòa. Là đồng hương ( và đống môn Cường Đễ Quinhon) nhưng vì hoàn cảnh đi lại khó khăn, nên chúng tôi không có dịp gặp nhau. Thuở ấy – HKB cũng chưa dành thời gian để viết nhiều – chỉ “làm thơ cho vui” vậy thôi. Tôi thật sự được “gặp & kết thân” với anh từ những năm đầu năm 2000 khi tôi đã về quê An Nhơn được 20 năm, đang giúp Hội VHNT An Nhơn làm công tác biên tập văn xuôi, mà HKB là một tác giả thường xuyên cọng tác.
            Bận nào về thăm quê Nhơn An (anh đã về sống tại Qui Nhơn) –HKB cũng ghé thăm tôi một chút. Anh luôn đi với một người bạn đồng hương láng giềng chở giúp vì không thể đi xe gắn máy. Dù chỉ thăm hỏi, trò chuyên mươi phút (đủ uống một tách trà,  hút một điếu thuốc – tôi hút, anh thì không) cũng là giây phút thật vui, thật ấm tình bằng hữu. HKB thường về quê “ăn giỗ” ( của bà con ở quê, của bè bạn cũ , hay của các chùa làng mà anh rất thân thiết với vị trụ trì…) – thường  ghé “rủ tôi ăn giỗ” cùng anh! Chưa bao giờ tôi được đi “ăn giỗ” với anh cả ( dù đã trên mười lần anh ghé chơi & mời) – vì tôi rất bận bịu việc nhà. Tôi cười: “ Ông không nhớ ông bà dặn rồi sao? “ăn bữa giỗ, lỗ bữa cày” mà!”! “ Và tôi không hề muốn “lỗ bữa cày” nên về sau – anh chỉ ghé thăm chơi mà không mời “ đi ăn giỗ với mình” nữa!
             Tôi thường rủ anh đến một quán café nào đó có chỗ ngồi thoáng mát yên tĩnh – để trò chuyện cho thoải mái trước khi anh về lại Qui Nhơn. Anh không hề hút thuốc. Được mời mọc – nể tình lắm, anh cầm điếu thuốc phì phà, trông tội nghiệp! Từ đó, tôi chỉ “hút một mình” – không dám mời! HKB cũng không “ghiền” café. Có lần ( vì vô tình – chưa biết rõ ý bạn) tôi gọi 2 ly café, anh cũng uống. Nhưng chỉ “uống cầm chừng & cầm cự” – không thấy anh thoải mái – nên những lần gặp sau – tôi để tùy anh gọi…
             HKB sống rất chừng mực và điểu độ trong mọi sinh hoạt. Anh là một thầy giáo đã về hưu. Cuộc sống ổn định. Sáng sớm nào cũng cùng bạn (có khi với NTH, NPL HH, T …) đi bộ tập thể dục, ra biển bơi lội ( hay ngắm thiên hạ chơi…) – trước khi vào bàn viết buổi sáng - sinh hoạt rất đều đặn. Anh luôn quan tâm đến bạn bè; hòa đồng, gần gũi, thân tình với tất cả anh em, chưa hề vắng mặt trong các dịp chia sẻ vui buồn cùng các bạn và gia đình – nên những người cầm bút ở Bình Định rất quý mến và trân trọng anh. ( Cách nay mấy hôm – nhận được tin trễ & không được khỏe – anh phone lên thăm hỏi – và nói “ cho mình đóng góp như anh em khi phúng diếu gia đình phía vợ TQK nhé!. Tôi đã cười: “ Anh yên chí – không sao. Xong rồi!”). Dù có tuổi – nhưng anh luôn có mặt trong các buổi sinh hoạt văn nghệ. Các dịp gặp gỡ & phát hành báo cuối năm của Hội VHNT AN, anh cũng gắng lên tham gia ( cách xa nhà trên 20 cây số). Anh quan tâm đến các sinh hoạt văn học nghệ thuật trong tỉnh – nhất là những người viết trẻ. Nhiều lần anh đã nhắc tôi: “ Anh nên động viên MN làm đơn gia nhập Hội VHNT tỉnh để có cơ hội gặp gỡ, giao lưu, tiến bộ - bởi tôi nhận thấy trong rất hiếm người viết văn xuôi nũ của Tình, MN viết rất chững chạc, có tiềm năng, và rất triển vọng! Tôi sẽ là người tình nguyện giới thiệu MN…”
              Dường như Tết nào anh cũng về thăm quê và ghé thăm tôi với Đặng Tấn Tới. Tôi được quen ( và thân ) với TVD – cũng nhờ anh giới thiệu. ( TVD là học trò của anh thuở trước 75 ở Tây Sơn). Dịp nào nhà văn nầy về thăm quê QN – anh và TVD cũng thường lên AN thăm chơi. Tết năm 2005. chúng tôi có tấm ảnh chụp chung “bộ tứ” tại nhà ĐTT rất ưng ý! ( xin gởi kèm theo đây để cùng “coi chơi” vậy). Tôi cảm thấy “hơi thất lễ” với anh – bởi anh ghé thăm tôi thì nhiều – mà tôi đến nhà thăm anh ( ở QN) thì ít cho dầu BĐ- QN chỉ cách nhau 20 cây số! Cần gì – thì chúng tôi “hú”nhau qua điện thoại – cũng vui! Tôi nghĩ, có lẽ - anh rất hiểu tôi mà không nỡ giận?
              Ngồi viết đôi điều tản mạn về anh nhân đọc “Trong Như Tiếng HạcBay Qua” anh đã gởi tặng tôi khá lâu, như một lần thăm anh – cho đỡ nhớ vậy!
              Hẹn gặp uống tách trà Cung Đình nhà anh nhé – bạn hiền!


Đêm 23 tháng 8 năm 2012
MANG VIÊN LONG

Thứ Năm, 30 tháng 8, 2012


Huỳnh Kim Bửu
 
  Tiếng hạc bay trên dòng sông Côn. 
             Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.         Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.

 

      Giữa khu vườn thơ văn bề bộn, hoa và lá đua chen, hai quyển sách của Huỳnh Kim Bửu xuất hiện với một phong cách đặc thù, một giọng nói riêng đã vẽ lên một tâm cảnh rất khác.
      Thoạt nhìn, tôi chú ý ngay đến tựa của hai tập sách: “Nơi con Sông côn chảy qua1 và “Trong như tiếng hạc bay qua2 - cả hai đều có một chữ qua - Có thể đó chỉ là một tình cờ, có lẽ không phải là dụng công của tác giả, nhưng tôi thấy thật thú vị vì hai chữ qua đó đều nói về quá khứ, về một thời đã mất...
      Thật thế, nhẩn nha đọc khi còn ở Milano (Ý ) những trang viết của Huỳnh Kim Bửu đã đưa tôi quay về hồi ức, lội ngược thời gian…
      ...Gần bốn mươi năm sống ở nước ngoài, khi bước vào những trang sách của ông tôi như bất ngờ trở lại quê mình. Tôi như vừa nhìn thấy một bụi chuối sau vườn, chợt bắt gặp một ánh trăng soi trên đỉnh tháp hay có khi nghe tiếng gà gáy sáng… rồi có lúc lại tưởng như mình đang dạo bước giữa không gian thoang thoảng hương sen, thần trí mơ hồ, không biết từ đâu vừa vẳng lên một tiếng chuông chùa.
      Chuông dội lại trong lòng, không lớn lắm, nhưng ngấm sâu và đánh thức những kỉ niệm tuổi thơ. Như ngọn đèn mờ bỗng dưng loé sáng. Những áp lực của cuộc sống trời Tây dường như không còn nữa. Những bon chen, phù phiếm bay đi đâu hết. Trong tôi chỉ còn nghe một thứ rung cảm kỳ bí. Tình quê.
      Lật tiếp những trang sách, tôi thấy nhiều những đoạn văn hay, những chi tiết thật thú vị  bất ngờ  về cuộc sống của một thời quá vãng ngay trên chính quê hương mìmh mà tôi còn chưa biết... Những cô gái mài vỏ ốc cẩn xà cừ, bôi một thứ  phẩm xanh để ngừa nước ăn da nên ra đường phải giấu hai tay trong nếp áo. Hay ông lão kỳ lạ, câu cá chỉ vì phải ăn để sống, chứ bữa nào dùng không hết thì ông lại đem ra bến để trả cá về với sông. Huỳnh Kim Bửu cảm nhận thời tiết qua phẩm vật mùa màng, dựa vào cây trái và hoa lá để minh chứng là Bình Định quê ông cũng có đầy đủ bốn mùa chứ không phải chỉ hai mùa mưa nắng. Mùa Xuân: chuối, bưởi cam; hoa mai, hồng, vạn thọ. Mùa Hè:  xoài, mít; hoa phượng, sen đầm; MùaThu: mận, nhãn lồng; hoa cúc. Rồi Mùa Đông: lại quay về với chuối; còn các thứ hoa thì vàng úa, tàn tạ, chỉ còn hoa giấy phất phơ trong cảnh gió mưa...
      Nhẩn nhơ dạo chơi theo từng trang sách tôi không khỏi có cảm giác như đang ngồi bên chiếc võng nghe ông đong đưa kể chuyện, rồi khi buông xuống, chợt thẫn thờ vì cảnh và người trong chuyện đã vời vợi xa, không còn nữa. Lòng vời vợi buồn vì những chuyện đổi thay hình như không theo lẽ tự nhiên, kiểu làn sóng sau thay làn sóng trước... mà cảnh cũ mất đi vì những áp đặt của con người. Thời buổi “toàn cầu”, lòng tham cũng theo đó được toàn cầu hóa, ai nấy sục sôi chạy đua làm giàu bằng mọi giá, kỹ thuật được vận dụng tối đa, tài nguyên được khai thác tận lực…Cảnh quan tươi đẹp của đất nước, của các vùng quê thanh bình ngày càng bị xé nát, thay vào đó là sự hỗn độn, khô cứng đến vô hồn, cuộc sống trở nên vật vờ và giả tạo. 
      Giọng kể của ông đều đều, như không quan tâm đến việc đổi mới câu chữ. Ông viết như trải lòng, tâm tình với người đọc trong một đối thoại thầm lặng mà không kém phần sôi nổi.
     Giọng điệu ấy thật khác với rừng rừng chữ nghĩa, chạy theo bút pháp này, trường phái kia, từng làm tôi hoa mắt trước nhiều quyển sách “lạ”, tin theo những lời giới thiệu có cánh, những bài phê bình ngoại giao, phe nhóm rồi mua về, đọc đi đọc lại mà không biết tác giả muốn nói gì. Ở đây, trong hai quyển sách của Huỳnh Kim Bửu, tôi gặp lại những áng văn bình dị, không cầu kỳ hay xun xoe chữ nghĩa… nhưng những câu chữ như có mang chút ánh sáng lấp lánh, soi chiếu những miền ký ức, gợi nhớ những kỷ niệm tưởng đã quên lâu và chìm khuất sau lớp bụi dày của thời gian.
     Rõ ràng cách tân gì thì cách tân, văn học không thể chỉ chạy theo bút pháp mới lạ, nhưng nghèo ý tưởng, duy lý đến khô cứng, rời bỏ cảm xúc, thiếu đi nỗi lòng của con người khi nhìn thế sự đổi thay. 
        Thực ra trước đây tôi cũng đã từng đọc những bài viết riêng lẻ của ông, thế nhưng giờ đọc lại một mạch trong toàn tập, cái nhìn tổng thể càng tô đậm trong tôi một cảm giác man mác buồn, man mác nhớ về một thời quá vãng, không chỉ là tâm lý hoài cổ, mà còn là nỗi băn khoăn về những giá trị của một thời cần phải được lưu giữ nay đã không còn. Đọc tạp văn mà cảm giác như mình đang đọc cổ thi, đang thả bước lang thang, dạo quanh khu thành quách hoang phế của những trường thành Bình Định, nơi đã từng là vùng đất thiêng của hai vương triều3.
      Ngôn ngữ của HKB giản dị, trong sáng, dùng nhiều từ địa phương mộc mạc, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc, pha trộn với nhiều từ ngữ và hình ảnh cổ điển của Đường thi khiến văn ông vừa gần gũi dễ đọc vừa có chút chiêm nghiệm, chất triết lý nhân sinh nhẹ nhàng khiến ta phải suy nghĩ. Điều này cũng không lạ, nếu biết ông đã qua tuổi thất thập. Những vầng dương, nhật nguyệt, bóng hạc, tà dương, hưng phế... trở đi trở lại nhiều lần... tạo không khí hoài cổ của người có tuổi thường ngoái lại đằng sau hơn là nhìn về phía trước.
      Hãy nhìn qua mắt ông: “Không còn những ngọn khói lam chiều toả lên từ những mái tranh, không còn những ngả ba sông mênh mông bát ngát với những đò chiều tấp nập vì dòng sông mỗi ngày mỗi cạn..” (Kỷ niệm chiều). Hay cảm theo ông giữa lúc hai màu vàng đen của bầu trời sắp hoà nhập, trộn lẫn vào nhau khi chiều muộn:
      “Chiều sẫm tối, có chàng trai trẻ bách bộ trên đường phố, hồn trí bâng khuâng với cảnh trời chiều, bỗng nghe một làn hương sực nức từ  đâu đưa lại: mùi dạ hương sớm toả...”(Chiều)
      Câu chữ giản dị nhưng không kém phần bóng bẩy. Bằng những con chữ đơn giản nhưng ông diễn tả được những điều tinh tế có sức lay động lòng người.
      Trong hai quyển sách có không ít những đoạn làm người đọc lâng lâng: “Người đứng trên cầu Phụ Ngọc nhìn ra xung quanh thấy mặt trời đang lặn trên ngã ba sông; những hôm có ráng chiều màu nước sông Côn nhuộm màu ráng đỏ, rồi cái màu ráng đỏ cùng sông mà trôi đi biền biệt...” 
      “Mỗi sáng sớm, chủ nhà thức dậy, đun ấm nước rồi ra trước hiên lai, hái vài hoa hồng tường vi nở trong đêm. Cho trà búp Đài Loan, cho hoa vào bình, rót nước sôi vào hãm giây lát là có được một bình trà ngon hảo hạng. Bưng kỷ trà toả hương đặt trên chõng, ngồi ngó ra sân còn đặc sương mai, uống trà với tâm thế người chào đón buổi bình minh.”(Chõng tre)
      Thế  nhưng những trang văn của ông không chỉ có  cái nhìn hoài cổ. Có lúc ông cũng dí dỏm, đang nói về chuyện “nhập tâm mắm” rồi bỗng ví von, khen con gái có cái “duyên mặn mà.” Cái  vị mặn của mắm tương hoà  với  nét đẹp mặn mà của cô gái quê  chân chất, hiền hoà, sống rất thực, trọn đời hy sinh vì chồng con, gắn đời mình vào cuộc hôn nhân bền bĩ, thách đố thời gian. Ông quan sát tinh tế đến từng chân tơ kẽ tóc về những điều thường hằng hiện ra trước mắt mà với ta không lưu giữ chút gì trong trí nhớ. Hãy nghe ông tả cô gái bán  bánh mì trên đường Tăng Bạt Hổ, Qui Nhơn: “Tay cô con gái thon búp măng, đeo nhẫn, cầm con dao Thái Lan thái chả, thái thịt thái rau, rồi cũng bàn tay ấy rạch ổ bánh mì, kẹp thịt chả, kẹp dưa leo, cọng hành ngò xanh, lát ớt cay màu đỏ tươi, xịt nước tương vào ổ bánh, rồi đặt ổ bánh vào tờ giấy, cuộn lại, trao bằng hai tay hai mắt cho người khách đang vui vẻ đợi. Tất cả các động tác của cô bán hàng đều rất thành thạo, rất lịch sự, nhịp nhàng, khiến tôi nghĩ đến điều: cô ta đang làm theo một điệu nhạc rất du dương trong lòng mình”.(Ổ bánh mì nóng giòn).
      Chao ôi! Phải có một tấm lòng yêu thương cuộc sống và  con người biết bao mới khiến ông có thể  trải lên giấy những trang văn đẹp đẽ và thiết tha đến thế về con người, về những công việc hết sức bình thường . 
      Trên những trang sách của HKB người ta còn bắt gặp mùi và  vị quê hương. Kinh nghiệm khứu giác thật mạnh khiến người đọc có cảm giác như đang cùng ông cắn chiếc bánh, rồi hồi ức và tình cảm được gợi lại giúp ta “đi tìm thời gian đánh mất” như Marcel Proust       “nhìn thấy” bầu trời thơ ấu của mình. Ta gặp đủ thứ, từ vị thiền trà trong sương sớm, vị mắm cua đồng đến mùi bùn đất, mùi mồ hôi của những bác nông phu, mùi hăng hăng rơm rạ đến mùi khói đốt đồng, mùi gió biển quanh năm tanh tanh mặn mặn.
      Người lưu giữ và qua từng ấy thời gian có thể dễ dàng truyền lại một cách tươi nguyên những mùi vị đó chắc hẳn phải là người có cảm xúc dạt dào và mang trong lòng một tình yêu quê hương nồng thắm.
      Có  lẽ vì thế mà sau khi đọc Nơi con sông Côn chảy qua, một bạn văn của tôi đã không đắn đo gọi HKB là một Sơn Nam của Bình Định?
      Cũng như bạn, đọc HKB, tôi có cảm giác là tình yêu quê hương Bình Định của ông, vác trên vai 70 năm qua, như một phần xương thịt của chính mình. Những vùng đất, những con người, tập tục, những màu sắc và mùi vị của những đồ vật sắp sửa biến đi... ông câm lặng nhìn, câm lặng nghe rồi đêm đêm, câm lặng chong đèn viết lên tiếng kêu luyến tiếc cho chính mình nghe. Tiếng kêu ấy bây giờ vọng lại, từ trang giấy chuyển tải đến chúng ta, đi tìm người đồng cảm.
      Tôi tin có rất nhiều người đồng cảm với ông dù  họ ở đâu trên thế giới này, miễn họ  là người Việt. Và tôi hẳn nhiên là một trong số ấy. 
      Người ta nói và đã nói rất nhiều về một thời vang bóng, nhắc đến những cuộc phế hưng qua thời gian, qua bao năm chiến tranh và giờ đây đau buồn nhìn thấy nền văn hoá đang tụt dốc. Thế nhưng đọc tản văn của HKB, tôi vẫn cảm thấy có cái gì khác, sâu thẳm hơn, tê tái hơn, ngậm ngùi hơn những gì tôi đã thường nghe, thường đọc. Có lẽ sự mộc mạc, ngôn ngữ không chút gì cầu kỳ, bí hiểm và đượm mối nhân tình ấy đã làm mới cảm xúc trong lòng chăng?
      Theo dòng sông Côn, những trang viết lặng lẽ của HKB đưa người đọc trở về chốn yên bình của một thời. Mấy mươi năm rồi, tôi còn nhớ như in hình bóng lão Thận ngồi câu quẹt ở gần bến sông… Bữa nào cá nhiều, ăn không hết, chiều xẩm ông đem ra bến sông thả xuống gọi là “phóng sanh”, để rồi sáng hôm sau lại ra bến sông câu lại từng con một trong cảnh chim trời cá nước. Tôi nhớ ông như nhớ một con người kỳ lạ, có lòng từ tâm, còn chuyện đi câu chẳng qua là vì miếng ăn của ông bị thiếu…” (Những con sông quê ơi!) 
      Một bạn văn khác của tôi, khi đọc hai tập tản văn, bút ký nhận định HKB là một nhà  văn chuyên về Bình Định học... Rất đúng, vì qua những trang văn ông đã lưu giữ cái hồn cốt tinh túy của tập tục, đời sống, con người và thiên nhiên của vùng đất quê mình. Nhưng tôi thấy một danh xưng như thế vô hình chung đã “khoanh vùng” văn hóa và không nói lên được tính khái quát về những trang viết của ông. Đúng là ông viết về Bình Định nhưng những hình ảnh mà ông vẽ lên, ghi lại... người đọc không khó khăn nhìn thấy rải rác trên khắp mọi miền đất nước.
      Vì  vậy, tôi thích gọi HKB là nhà văn Việt Nam, không chỉ viết riêng cho Bình Định; dù cả đời mình HKB ít có dịp đi xa, “nhích” đến những vùng đất lạ. Cả đời mình hầu như ông chỉ quanh quẩn “Nơi con sông Côn chảy qua”, hoàn cảnh cá nhân buộc ông phải thuỷ chung sống chết với vùng đất ấy; mà vùng đất ấy cũng chính là đất thiêng, đất của nghĩa khí Tây Sơn “áo vải cờ đào”… Ông yêu người dân “thàng hậu” quê ông tha thiết, tình yêu đó tan chảy vào máu thịt đến độ khả kiến mà bất kỳ ai, là con dân “Xứ Nẫu” hay không, đọc ông viết về những gì đã qua hơn nửa thế kỷ cũng đều dễ dàng nhận thấy phong cách và lòng yêu đó. 
     Đề tài trong hai tập sách của HKB thật đa dạng và phong phú. Tôi không biết là để chắt chiu nhặt nhạnh từng hình ảnh, từng chi tiết và kỷ niệm để tập hợp lại rồi “bắt nó nằm lại” trên những trang giấy… ông đã làm việc cần mẫn bao nhiêu năm nhưng tôi tin chắc là ông đã chẳng hoài công. Ông đã níu giữ được một thời. Bằng những rung động chân thành, cảm nhận sâu sắc và chắt lọc chi tiết, gọt dũa qua ngôn ngữ nghệ thuật theo cách của mình, ông đã để lại những trang văn gợi cảm, có sức lan toả và tạo những dư ba trong tâm hồn người đọc.
      Xã  hội hôm nay có quá nhiều sản phẩm, kể cả  văn chương, để người tiêu dùng ăn ngấu nghiến, ăn vô  tội vạ và rồi nhanh chóng vứt bỏ như  xóa “1 file” trong bộ nhớ. Những kẻ  háo danh chỉ muốn làm điều lập dị, cố  gây đình đám... để mau nổi tiếng, mấy ai bỏ thời gian để viết những điều chẳng mấy “thời thượng” này. Vì thế tôi nghĩ sự xuất hiện của những quyển sách quý, giúp ta lưu giữ những kỷ niệm và giá trị truyền thống, rất đáng nghiêng mình kính trọng.
     Vì  không ai hình dung được một xã hội sắp đến sẽ quái gỡ ra sao nếu chỉ toàn những người làm kinh tế lừa đảo, chộp giật, mánh mung hay những người cầm bút viết lên những trang văn vô cảm, nhạt nhẽo, không hề quan tâm đến người đọc. Hay chỉ quan tâm đến những tin lộ hoàng, khoe thân xác... để kích động lòng tham muốn thấp hèn. Khơi dậy bản năng xấu nhất. Để đánh thức phần CON, bóp chết phần người... 
     Nếu văn chương là tiếng nói của cảm xúc, là bày tỏ thái độ trước những vấn đề trong cuộc sống, là sự giải bày nội tâm để tìm kiếm những đồng cảm tri âm của người đọc... thì tôi nghĩ là HKB đã  thành công trong cuộc tìm kiếm đó.
      
                                          Trương Văn Dân 
                                                Bắt đầu viết tại Milano 12-2009
  •  
    •  
      •  
        •  
          •  
                          Và viết tiếp tại Sài Gòn 10-2011 

Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012


Thơ Huỳnh Kim Bửu




Ở Sài Gòn ăn bún cá Quy Nhơn

Sài Gòn những chiều mưa
Quán bún cá Quy Nhơn trên đường Cô Bắc
Có người ngồi nhìn cơn mưa hiu hắt
Như một nỗi buồn.

Ăn bún cá Quy Nhơn giữa Sài Gòn hoa lệ
Cũng mênh mang trời đất quê mình
Cũng chớp bể mưa nguồn tháng bảy
Cũng giêng, hai trống hội sân đình.

Ăn bún cá Quy Nhơn giữa Sài Gòn hòn ngọc
Cảm ơn quê cho chút vị nồng
Cảm ơn đời cho những môi hồng
Cảm ơn em giữ màu tươi thắm.

Ăn bún cá Quy Nhơn giữa Sài Gòn xa em
Anh sẽ về nhà sau cơn mưa vừa tạnh
Sẽ đi trên con đường hàng me tĩnh lặng
Cho nỗi nhớ em sâu thẳm đường về.

10 / 2005 

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012


Yêu mãi cuộc đời này
                                        (Đọc Bàn tay nhỏ dưới mưa, tiểu thuyết của Trương Văn Dân, cty vh Phuong Nam-Nxb Hội Nhà văn, 2011)
  •  
    •  
      •  
        •  
          •  
            •  
              •  
                       Huỳnh Ngọc Nga- Italia 
                   
      BÀN TAY NHỎ DƯỚI MƯA đến với tôi qua nhiều chặng nhiêu khê, từ bản in thử bị thất lạc tại nhà một người bạn, đến bản in thật đưọc chuyển từ VN sang nhà em gái tôi rồi qua nhà má tôi để cuối cùng sau gần một tháng mới tới tận tay tôi vào đầu tháng 5.2012.   
      Tôi  đã đọc văn phong của Dân từ hơn mười năm nay, đã quen với lối viết giản dị “đọc là hiểu liền” của cậu và trong những cái hiểu liền đó tôi hiểu luôn cả nổi băn khoăn, bức xúc cậu muốn nói về những nghịch lý của cuộc đời. Những nghịch lý mà tốt-xấu, hay-dỡ, thiện–ác như nghịch đùa đuổi bắt lẫn nhau trong đời sống hàng ngày của chúng ta. 
      Năm 2007, khi ra mắt “Hành Trang Ngày Trở Lại” (NXB Trẻ), tập tuyển truyện đầu tay của cậu, Dân đem đến cho chúng ta những mảnh đời khốn khổ, nạn nhân của thời đại mà kỹ thuật, vật chất đang thay thế tâm linh con người và những ám ảnh bởi nổi đau của hai bờ sinh tử. 
     Và  bây giờ, năm 2011-2012, Dân lại tặng cho độc giả “Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa” để mọi người biết những gì đã trải qua trong tâm hồn cậu sau những năm về với quê hương. Sách thuộc loại tiểu thuyết dài, kể chuyện nữa đoạn đời còn lại của Gấm - người phụ nữ đã có hai đời chồng và một đứa con - cùng người tình thứ ba của cô - một nhà văn, nhà báo goá vợ. Mối tình tưởng như toàn hảo khi cả hai cùng nhìn về một hướng để đi tiếp đoạn đường còn lại bằng tình yêu chân thật, nhưng ông trời oái oăm thích trêu chọc con người nên khiến Gấm bị ung thư phổi và chết khi cuộc tình còn đầy nóng bỏng, đam mê.
     Vắn tắt tóm lược thì chỉ có thế, như phim Love Story của đạo diễn Arthur Hiller trong thập niên 70 của thế kỷ trước, tình yêu và cái chết bởi bịnh hoạn. Nhưng Love Story chỉ cho ta nước mắt khóc một cuộc tình dang dỡ chứ không cho ta những suy gẫm về những bung xung chung quanh cuộc tình. Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa cũng có nước mắt chia lìa nhưng Dân tinh tế hơn đạo diễn A. Hiller, cậu không chỉ làm ta khóc cho nhân vật nữ trong chuyện mà còn làm ta băn khoăn suy gẫm về cuộc sống của chính chúng ta với nhiều chi tiết dính dáng đến nhân, sinh, quan cuộc đời. Đó là cái tham lam lịch lãm của Dân khi viết chuyện này, tom góp hết những hoài bảo, khát khao của cậu làm những bung xung để lồng vào một cuộc tình thường. Nói là cuộc tình thường vì tình huống cốt chuyện ta rất dễ gặp trong phim ảnh, tiểu thuyết và đời thực chung quanh ta. Nhưng với riêng tôi, những bung xung tưởng chừng như phụ thuộc lại chính là những điểm sáng làm người đọc thấm đậm nhiều hơn. Chính vì thế mà  Nhật Chiêu đã nói “Bàn Tay Nhỏ Dưới Mưa là một tác phẩm đương đại pha lẫn tiểu thuyết và tiểu luận, trữ tình văn xuôi và ký sự báo chí “. Duy có điều những đoạn dành cho tiểu luận hay ký sự báo chí Dân thường xen kẻ khá dài trong chuyện tình của hai nhân vật chánh khiến đôi lúc câu chuyện của hai nhân vật chính dường như bị gián đoạn. Ví dụ từ trang 266 đến trang 279, tất cả  chỉ nói về các vấn đề nhân sinh xã hội, chính trị, kinh tế  cơ hồ không liên quan gì đến Gấm và người yêu của cô.. Tuy nhiên đó chỉ là những khuyết điễm phụ không đáng kể. 
      Trong “Hành Trang Ngày Trở Lại” tác giả viết giản dị như kể chuyện, nhưng ở BTNDM Dân cho ta thấy cậu nhảy một bước khá xa trong cách hành văn, dụng từ. Câu văn ngắn, gọn hơn. Ví dụ như:  
Tôi chợt nhớ  đến Gấm.
Mùi vị  của nàng.
Khuôn mặt của nàng.
Những năm tháng của chúng tôi.  
(trang 15 BTNDM) 
hoặc như : 
Một cơn ho chí  tử nữa vừa ập  đến.
Ngực tôi như  muốn nổ bùng
Và  đất trời yên ắng bỗng chao đảo như sụp đổ.
Nó  sẽ vỡ từng mảng và  đổ ụp xuống trần gian.
Tôi còn bao nhiêu thời gian nữa?
Từ  đây đến “đó” còn bao xa?
Những thời khắc còn lại mình sẽ làm gì?
……
Bây giờ  không.
Ngày mai không.
Mãi mãi cũng không.   
                   (trang 358 BTNDM) 
      Cách viết đó gần như một thể loại thơ mới đuơng đại, nửa văn xuôi, nữa văn vần. 
      Chưa hết đâu nhé, khoảng cách 4 năm giữa hai quyển sách (HTNTL và BTNDM) dường như cho Dân trưởng thành hơn trong tư tưởng để từ đó cho cậu sự  phong phú lúc hành văn bằng các phương pháp tỷ  giảo, ẩn dụ,  nhiều dẫn chứng các tài liệu từ sử học, khoa học, chính trị - xã hội học. Tất cả tạo cho người đọc thấy Dân không những là một nhà văn mà còn là một học giả đầy kiến thức mọi việc đó đây. Ngoài ra, phải thật tình mà nói Dân rất khéo léo, hoa mỹ khi diễn tả những đoạn nhục cảm, cậu gần như tả chân hết tất cả chuyện buồng the của Gấm và người yêu. “Huỵch tẹt” vậy đó nhưng người đọc dù khó tính đến đâu cũng không nghe đỏ mặt mà cứ thấy như đó là chuyện cơm ăn, nước uống ngoài đời.   
      Dân là người sống nhiều về nội tâm, cứ nhìn các bài viết của cậu từ trước đến nay thì  ai cũng thấy điều đó. Đọc sau, nhận xét muộn nên tôi sẽ trở thành bản sao chép lại của Nhật Chiêu, Phạm Xuân Nguyên, Đổ Hồng Ngọc, Bùi Việt Thắng, ….khi đồng ý cùng các vị ấy để nói rằng BTNDM mang nặng tư tưởng Phật giáo với bánh xe luân hồi không ngừng vận chuyển - ... “Vì Gấm sẽ chờ tôi bên kia thế giới. Để cùng quay lại trần gian. Chúng tôi tin là sẽ tìm lại được nhau trong kiếp tới để tiếp tục một tình yêu nửa chừng dang dở mà chẳng bấn gợn chút đau thương nào..Vì chết chỉ là mở đầu của sự tái sinh nên chúng tôi ước muốn sẽ cùng nhau quay lại cõi trần gian.”…(trang 411) rằng BTNDM là khúc ca trầm đầy khát vọng sống với thương yêu lãng mạn và nhục cảm, hảy thử đọc lại trọn vẹn từ trang 392 đến trang 396  để thấy bức tranh tình ái với thân xác và linh hồn của hai kẻ yêu nhau đuợc Dân miêu tả linh động thế nào.  
      Giữa khổ đau và hạnh phúc cũng như giữa sống và chết Dân không những muốn nói với mọi người về chữ Tâm trong thương yêu mà còn có  cả chữ Trí trong xét đóán và chữ  Dũng khi an nhiên tự tại đối phó cùng nghịch cảnh không một chút trách hờn “Bởi chúng tôi cùng chia sẻ ý tưởng của Hermann Hesse: Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại nầy”.(trang 412) 
      Tuy nhiên, theo tôi BTNDM có lẻ sẽ hoàn hảo hơn nếu Gấm không quá dễ dãi trong lần đầu mới quen với người yêu nhà báo. Dân hơi quá nhanh khi cho hai nhân vật mới quen nhau chưa chi đã vội vả mời đi uống cà phê rồi hẹn gặp nhau hai hôm nữa. Phụ nữ khó tính, đàng hoàng ai lại quen mau, thân vội như vậy? Có lẻ Dân muốn chúng ta thấy sự hụt hẩng trong hôn nhân đã làm Gấm hơi buông thả hay chăng? 
      Và  thêm một điểm nữa làm tôi hơi thắc mắc về quan niệm hôn nhân của Dân trong đoạn Gấm muốn có một đám cưới đàng hoàng nhưng nhà báo không chịu vì lý do anh chàng chỉ có 1 người vợ đã chết chứ không muốn có người vợ thứ hai (nhưng có người tình thì được). Nếu định nghĩa theo quan niệm người Ý thì Dân hơi machiliste nhiều lắm rồi đấy (có nghĩa là nam quyền). Khi yêu thật sự người ta không tính toán tình trước, tình sau, không phân định vợ hay tình, không cần giải thích tờ hôn thú có lý hay vô lý, là  tờ giấy lộn vô nghĩa hay chứng nhận trung thực sự nghiêm chỉnh của một mối tình. Khi yêu người ta chỉ biết làm vừa lòng người mình yêu. Thế nhưng ở đây, BTNDM, Dân hơi mâu thuẫn khi cho nhà báo quyết liệt từ chối một đám cưới đàng hoàng với Gấm dù cô đã van nài tha thiết bằng nước mắt và cả giận hờn. Cuối cùng thì cô Gấm đầu hàng trước sự cương quyết của người cô yêu hay nói đúng hơn trước miệng lưỡi giải thích của một nhà văn, nhà báo và hay nhất là cô còn ăn năn hối hận là suýt tý nữa đã có thể sẽ mất “chàng”.  Nói rõ ra thì chỉ có Gấm mới thực sự yêu còn anh chàng nhà báo theo tôi chưa hẳn đã hết lòng với Gấm. Có thể vì tôi là phụ nữ nên hơi nhạy cảm vấn đề nầy  trong thời buổi khắp nơi đang tranh đấu cho nữ quyền dù Dân đã biện chứng “ Khi người phụ nữ thích làm công việc của đàn ông thì gia đình sẽ tan nát”(Trang 106 ). Thực sự, cô Gấm đâu muốn chiếm quyền ưu tiên của đàn ông, cô chỉ muốn được tôn trọng mà thôi và theo đa số quan niệm mọi người thì tờ hôn thú là sự tôn trọng của luật pháp dành cho phụ nữ trong hôn nhân cũng như không có chứng minh nào rõ rệt nhất của người nam khi yêu dành cho người nữ ngoài lời tỏ tình xin chính thức đưa nàng về dinh bằng một đám cưới danh chánh ngôn thuận trước luât pháp và người thân. Tóm lại, cậu Dân của chúng ta đúng là mẫu đàn ông VN thuần túy đây nhé.  
      Ngoài chuyện tình của Gấm, người VN dù trong nước hay ở  hải ngoại đọc BTNDM để thấy phần nào bối cảnh xã hội đất nước chúng ta sau hơn 35 năm thống nhất, chiến tranh bom đạn lùi xa nhưng chiến tranh vật lộn giữa đạo đức và vật chất, bạc tiền đã khởi đầu từ lâu và đang tiếp diễn không biết đến bao giờ mới phân thắng bại. Dân đã thay mọi người để nói lên tiếng chuông cảnh tỉnh trong công án đi tìm lời giải, lối thoát của thân phận con người nơi cuộc chiến đó. Hy vọng VN của chúng ta không như Gấm, không gục ngã vì hai cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để phải chết vì bịnh tha hoá xã hội trong thời bình.   
  •  
    •  
      •  
        •  
                 HUỲNH NGỌC NGA                                                  
       Torino, ITALIA – 24.06.2012

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012







Thơ Huỳnh Kim Bửu





Kinh và thơ tình







Hằng ngày tôi vẫn dành thời gian 
đọc kinh 
và thơ tình.

Tôi đọc kinh Pháp Hoa, kinh Thủ Lăng Nghiêm 
Chú Đại Bi và Kinh Bát Nhã Bát Nhã Ba La Mật. 
Nhờ đọc kinh, tôi thấu hiểu lời Phật dạy 
nương cậy lẽ Vô thường 
mà giảm bớt lòng tham sân si -  
nguyên nhân của chiến tranh, máu lửa 
nạn đói 
và bao nỗi kinh hoàng. 


Nhờ hiểu chữ duyên  
sáng sớm, tôi mừng gặp hoa hồng nở 
nhìn thấy cuộc được mất, hơn thua 
như khói sương đầu ngõ.

Tôi đọc thơ tình 
của những người con gái 
gởi (nhờ đọc giùm) 
của Rimbaud, Verlaine 
Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu… 
Nhờ đọc thơ tình 
tôi hiểu những số phận truân chuyên 
tại sao Thúy Kiều mười lăm năm luân lạc 
thương cô gái đi lễ hội chùa Hương 
vừa chớm nở đóa tình đầu 
tôi thêm yêu quê hương 
những chiều mây ôm ấp núi 
những cánh diều em thơ bay giữa không trung 
những khi nghe tiếng đàn bầu nỉ non 
giữa đêm khuya khoắt… 


Đọc Kinh cầu giải thoát 
đọc thơ tình thêm vướng lụy 
nhưng lại cùng trau dồi chữ Tâm.

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012






Thơ Huỳnh Kim Bửu




Lên chùa đĩnh đạc chữ Tâm



Trăng lên mũi Tấn (1) là chiều 
Bơ vơ xóm Đạo tàu tiêu gọi nồm
Sông trôi nên cát bồn chồn
Trăm năm rồi cũng nhập hồn cỏ lau.

Sang chơi dắt lưng túi trầu
Chuyện cùng hàng xóm bã trầu thêm tươi
Có chơi leo ngọn Dốc Trời
Hái sim chín đỏ hái Thu chín vàng.

Cậy chi áo mũ rỡ ràng
Gốc đa ông Táo võ vàng cái thân

Lên chùa đĩnh đạc chữ Tâm
Về nhà ngồi tựa trăng Rằm là vui.

(1)Một địa danh thuộc Quy Nhơn xưa.

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

Thơ Huỳnh Kim Bửu


 Lời tự nhủ mỗi ban mai




Mỗi ban mai 
chậu hồng trên thềm nhà ướt sương 
nở nụ hồng 
chích chòe than trong lồng 
cao tiếng hót 
vòm trời trong xanh bay vệt mây lành 
chị mái tơ cho tiếng cục …. ta cục … tác 
gốc thị góc vườn cho những chùm thị chín 
và mùi hương ngát thơm. 


Đó, mỗi cảnh vật vì đời mà hiến dâng 
dẫu có phải nhỏ nhoi khiêm tốn  
ở bên cạnh sự lớn lao 
như mặt đất mỗi ngày hiến dâng buổi bình minh 
như bầu trời mỗi tháng một đêm trăng rằm. 


Tôi thường nghĩ đến một nụ hồng 
một nhành bông lúa ngoài đồng 
thơm mùi sữa non 
mà nói lời tự nhủ mỗi ban mai…

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2012



 
tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và 
hội họa
truyện dân gian Việt Nam 
và Thế giới
tư liệu sáng tác
tìm kiếm
Khách thăm: 4288612
17.05.2012
Huỳnh Kim Bửu
Chùm tản văn gửi từ Bình Định (2)
                                      

       Phản



        Bên trong các ngôi nhà cổ, chủ nhà thường trưng diện nhiều đồ gỗ quý giá: án thờ, tràng kỷ, tủ chè … Và thường không thiếu bộ phản.

        Phản là một bộ ván, thường từ 1 đến 2 – 3 tấm ván ghép lại, đặt trên một bộ chân phản vững chải, còn gọi là bộ ngựa. Phản là loại tiện nghi đồ gỗ, dùng để nằm, ngồi, như giường, chõng... Mỗi tấm ván thường có gáy từ 15 – 20cm, rộng 0,6m, dài 1,8m. Phản là tên gọi chung của các loại phản, chớ còn có phản gõ, bộ gõ, ngựa gõ(phản làm bằng gỗ gõ - khá phổ biến) phản vuông (có mặt phản hình vuông), phản giữa, phản chái (do vị trí phản đặt ở trong nhà) … Người ta cũng hay gọi phản: bộ ván ngựa. Hồi xưa, những đồ gỗ quý thường được chạm trổ, nhưng phản là một trường hợp ngoại lệ, không chạm, tiện, chỉ cần cưa cắt thẳng, bào láng. Ngoại trừ bộ chân đế được tiện hình mũi hài, hình lưỡi ốc sên, cho vừa đẹp vừa vững. Những bộ ván ngựa xoài, mít và gỗ tạp… thường mỏng, đặt trên bộ chân đế thẳng, không tiện.

         Giá trị của các bộ phản tùy thuộc vào cây gỗ danh mộc hay tạp, sự dày mỏng và số tấm ván ghép lại. Phản giá trị nhất là phản gõ, do 3 tấm ghép lại, tạo thành phản vuông (1,8m x 1,8m), bề thế. Ngôi nhà cổ ở Bình Định là các nhà lá mái 3 gian hoặc 5 gian hai chái, nó sang trọng từ ngoài tới trong: kể từ bậc thềm đá ong, nền gạch Bát Tràng, hàng ba cột hè, hàng cửa cổng, bàn khoa… đến bên trong nhà - nơi có một không gian nội thất âm u, tĩnh lặng được làm bằng cột, kèo, đà, ván chạm hoa văn và hiển hiện một màu nâu láng của nước gỗ. Trong nội thất đó, người ta tùy theo giá trị và sự bề thế của phản mà tìm chỗ kê đặt cho thích hợp, tương xứng. Bộ gõ vuông bao giờ cũng đặt ở gian giữa nhà (nên còn gọi phản giữa) những bộ gõ 2 tấm trở xuống đặt ở gian chái tây mở cửa sổ ra vườn cây, còn gọi phản chái. Nhiều nhà có bộ ván đặt ở hiên trước, ngó ra sân, ra ngõ. Cách bài trí phản trong đình, chùa cũng chẳng khác mấy các tư gia; chỉ khác, đình, chùa có không gian nội thất lớn, cho nên kê đặt được nhiều bộ phản hơn.  

        Người ngồi phản có ngôi thứ, chứ không phải ai muốn ngồi vào phản nào cũng được. Chỉ có bậc trưởng thượng mới được ngồi phản giữa (cũng có tên gọi phản vuông), còn phản chái dành cho hàng vai vế thấp hơn. Nội tôi được người trong làng An Định gọi là Ông Cả. Trong gia đình, chỉ có Nội ngồi phản giữa, mỗi khi có khách là thầy Đồ Thịnh, ông Tú tài Hiến, ông Cử nhân Đạt…đến chơi nhà, Nội mời khách cùng Nội ngồi phản giữa; khi ra đình họp hương đảng, Nội cũng được mời ngồi phản giữa cùng với các bô lão, kỳ mục khác trong làng An Định. Vì việc ngồi phản giữa, phản vuông là vinh dự, cho nên nảy sinh ra cái tệ trong hương đảng: Tranh ngồi trên, tức tranh chức quyền và ngôi thứ. Trên phản giữa thường được đặt cái tợ (bàn con, chân thấp) ở giữa; ở xung quanh là các gối xếp (gối nhiều tấm vuông, may liên kết, chồng khít lên nhau, có thể mở thấp cao tùy ý). Trên tợ đặt kỷ trà, xe điếu, ống nhổ, sòi thuốc lá …Dưới gầm tợ để sẵn một chồng chừng 4 -5 cái quạt lông gà nhuộm xanh đỏ tím vàng, hình trái tim, tra cán dài. Trong những ngôi nhà lá mái, vẫn có những bộ ván tạp đặt dưới nhà bếp, cho bà nội tướng dọn mâm cơm thường bữa của gia đình.

         Người quê tôi vẫn “ca ngợi” thú nằm phản gõ. Phản gõ hình như để ngồi là chủ yếu, nằm thì cũng chỉ ngả lưng tạm nơi phản chái, không được nằm phản giữa, vì ở trước bàn thờ gia tiên. Ai nằm phản gõ thì được hưởng một cái thú tuyệt hảo: Hơi mát từ phản gõ tỏa ra rồi thấm vào làn da, thớ thịt, nhất là trong thời tiết nóng bức của mùa Hè. Mà cái hơi mát đó ở đâu? -Trước hết, ở trong thớ gỗ gõ, rồi thớ gỗ gõ lại được tẩm một lần hơi mát nữa của không gian nội thất nhà lá mái. Cũng nên nói, nhà lá mái ở quê tôi là một kiểu nhà đặc biệt, trát  vách đất hom vôi, hai lớp mái: mái trên lợp tranh rạ, che nắng mưa; mái dưới đắp lớp đất nhồi rơm dày trên lớp sìa đan nan tre (hoặc trên lớp ván dày đóng khít nhau) giữ cho bên trong nhà luôn dịu mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông. Phản gõ chỉ thích hợp với nhà lá mái với vườn tược xung quanh, chỉ có nhà lá mái mới “phát huy” được cái thế mạnh của phản gõ; không thích hợp với nhà xây gạch, lợp ngói Tây, nhà ống đúc bê tông của thời nay. Ở quê tôi, các gia đình giàu sắm phản gõ, đặt bên cạnh tràng kỷ, tủ chè, giường hộp, để làm tiện nghi sinh hoạt, chủ nhà thể hiện trọng cổ, làm của cải truyền tử lưu tôn… Nhà bình dân cũng ráng sắm bộ ván mỏng để thêm chỗ ngả lưng sau buổi lao động mệt nhọc, gặp lúc cần vác ra bờ mương, tấn ngang mương, tháo nước vào ruộng, cũng tiện. Kỷ niệm tuổi thơ ấu đáng nhớ nhất của mấy anh em nhà tôi với các bộ phản là mỗi khi cha mẹ vắng nhà, chúng tôi bày ra một đám hát bội, lấy một bộ phản làm sân khấu, còn tuồng tích thì sẵn thuộc lòng Cổ thành, San hậu…

          Đọc văn chương bình dân, gặp không ít ca dao, câu đố về cái phản: “Đưa lưng cho thế gian nhờ / Lòng ngay dạ thẳng bị ngờ bất trung”… Anh cưới em chẳng phải bạc tiền / Mời anh ngồi phản chái, cha “riềng” đôi câu: / Đã thương thì phải thương lâu / Tới chừng đầu bạc vẫn âu duyên tình / Cha mẹ ngồi phản giữa tác thành / Nhận sính lễ một trăm quả cau xanh, đủ rồi”. Còn nhiều lắm. Trong dân gian Bình Định xưa giờ, người ta vẫn thích kể chuyện: Lía lập sơn trại ở Truông Mây (1) để đánh đổ bất công, cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Một đêm ở nơi sơn trại, Lía đang ngủ say trên phản gõ, bất thình lình bị quân Tổng đốc Bình Định tấn công, chàng giật mình thức dậy, không sẵn gươm dáo, bèn xách phản làm vũ khí chống cự. Đánh một chặp, quân Tổng đốc khiếp hãi, thua, chạy tán loạn. Lía Thắng trận, nhưng mệt quá, bèn bứt dây rừng, cột phản đeo trên lưng, thủng thẳng đi đến một sườn núi, tựa lưng mà nghỉ.

        Thời vàng son của phản gõ đã qua rồi, cái thời kéo dài tới ngàn năm! Đó là thời ông cha ta ở nhà lá mái, mặc áo dài khăn xếp, bộ vạt hò, nói chuyện chi hồ giả dã...Các cụ ngồi phản gõ, xếp bằng xung quanh tợ, xung quanh kỷ trà, một cánh tay, một hông tựa vào gối xếp, phe phẩy quạt lông…Ngồi lâu, đến bình trà nhiều lần súc bã, chuyện thêm đề tài mà hứng chí cứ tăng thêm. Ngày nay, nhà lá mái mỗi ngày mỗi ít, phản gõ cũng bởi đó mà ít theo. Ít thấy có chủ nhân những ngôi nhà Tây, nhà hiện đại có ý tưởng sắm bộ phản, nếu thấy cần, họ đã có tấm đi – văng thay. Người thời nay mặc Âu phục, bụng bự, nói chuyện từ trên xa lộ thông tin kéo xuống, nhỡ mà có được nhà hoài cổ nào đó mời ngồi phản gõ uống bia Tiger, thì anh bạn thấy trước như mình sắp bị tra tấn, hành xác, cho nên tìm cách lãng. Sự vât hiện hữu phụ thuộc vào cái dụng, một khi cái dụng không còn nữa thì sự vật mất, chỉ tội cho cuộc sống bị giảm đi ít nhiều lý thú.



______

(1) Lúc Lía bị bao vây lâu, Ca dao Bình Định có câu: “Chiều chiều én liệng Truông Mây / Cảm thương chú Lía bị vây trong thành”. Lại còn có Vè chàng Lía lời lẽ bi tráng để cảm thương người nghĩa khí.   





Thiền trà Viên Giác

         Tôi có mấy lần được Hòa thượng Tịnh Như, trụ trì chùa Viên Giác, mời đến uống trà.           

          Hòa thượng trụ trì là người yêu thơ, có sáng tác mấy tập thơ đượm vị thiền. Tôi yêu hai câu thơ dịch của ngài:

            “Trời xanh bát ngát mây vương núi

Hồ biếc êm đềm nước động trăng”

            Nguyên văn chữ Hán cùng thủ bút của tác giả khắc trên tam quan chùa cổ Viên Giác nay vẫn còn:

            “Nguyệt hạ bất xao kim tỏa đoạn

Sơn tiền chỉ nhậm bạch vân phong”

(Hòa thượng Bích Liên - Chủ bút Tạp chí Từ Bi Âm, trước 1945)

            Có lần, chủ khách uống cạn mấy ấm trà, ngài hứng khởi hỏi tôi:

-Ông giáo nè, ông có chịu với tôi là thơ văn viết về thú uống trà nhiều lắm và có nhiều bài hay?”.

Tôi liền đáp:

-Dạ thưa ngài, trong Truyện Kiều danh tác, Nguyễn Du đã viết hai câu thực hay:

Thiền trà cạn nước hồng mai

Thong dong nối gót thư trai cùng về “

để tả cảnh Hoạn Thư dẫn Thúc Sinh về nhà sau khi hai người đã dùng trà xong tại Quan Âm Các, do Thúy Kiều thiết đãi, và để lại cho Thúy Kiều thêm một nỗi kinh hoàng nữa. Nhà văn Nguyễn Tuân viết tùy bút Những chiếc ấm đất tài hoa lắm.

            Hoà thượng tơ mơ, gật gù:

         -Theo tôi nghĩ, việc uống trà ở nhà chùa chúng tôi được gọi là “thiền trà” có lẽ kể từ đó. Còn ông nhà văn viết tùy bút kia là bực văn tài, lại sành điệu uống trà, có thể xếp vào hàng đệ tử của “Trà đạo”. Tôi yêu biết mấy bài thơ Qua áng hương trà của thi sĩ Vũ Hoàng Chương:

            “Hương biếc tràn quanh nắp đậy hờ

Ấm sành nho nhỏ khói lên tơ

Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm

Ai biết mình sen rụng xác xơ”.

            Đến khổ kết của bài thơ thì “nên câu tuyệt diệu” giàu ý nghĩa nhân văn, thức tỉnh ta quay về với Tâm không của nhà Phật, ông giáo nhé:

“Nâng chén mời anh thưởng vị trà

Đừng quên tan tác mấy đời hoa

Cạn từng hớp nhỏ cho Sen đượm

Vớt lại trần ai một chút Ta”.

           Nhân ngài dừng lại nhấp ngụm trà, tôi hầu chuyện tiếp:

         -Thưa ngài, Quách Tấn còn có bài “mời bạn chén trà đưa tiễn”.

            Ngài hỏi tôi:

         -Có phải ông giáo muốn nói bài Động hoàng hôn đấy chứ? Rồi ngài cảm khái đọc bài thơ và kèm theo lời bình:

 “Hương trà chưa cạn chén hàn ôn

Thuyền đã buông theo tiếng sóng dồn

Ngắm vọi mây thu ùn mặt biển

Gác chuông thành cổ động hoàng hôn”.

            Tiễn người ra đi bằng một tiệc trà như thế, tôi chắc là người đi hương trà còn bay theo người mãi, cho tới khơi xa. Và tôi cũng cho rằng ông nhà thơ cũng cắc cớ. Tại sao không làm cuộc tiễn bằng rượu như thông lệ mà lại bằng trà?

            Hương trà đang còn thoảng, Hoà thượng vẫn xắn tay áo tràng rót “chén tống chén quân” mời tôi. Tôi tiếp lời ngài:

         -Thi nhân xưa nay, thơ với rượu đi kèm là thông lệ, cho nên ông Tản Đà mới viết: “Không thơ không rượu sống như thừa”. Ông Quách Tấn đã cắc cớ tiễn người ra đi bằng trà mà ông bạn thơ thân thiết của ông cũng không kém:

           “Chè đọt đang kỳ điểm lá ba

            Giọt sương lách tách cửa song nhòa

            Thơ ngồi suốt buổi không ra tứ

            Cháu đã đun tràn ấm nước pha” (Yến Lan).

            Hòa thượng Tịnh Như, trụ trì chùa Viên Giác, nay không còn nữa, chắc là ngài đã về cõi của Như Lai, nhưng cái phong cách uống trà, cái dáng đi nhẹ thênh như mây như khói và cái hồn yêu thơ của ngài thì tôi không thể nào quên cho được.



Tre

                                             

Tre được trồng trong các làng mạc, trồng thành bụi tre, rặng tre, bờ tre. Bờ tre bao quanh làng được gọi là lũy tre làng hay rặng tre làng. Cả nước, đi đâu người ta cũng gặp tre, gặp những làng mạc hiền hòa và những lũy tre xanh. Cùng một gia đình, dòng họ với tre, người ta kể có trảy, trúc, tầm vông…

         Từ xưa tới giờ, trải đã bao đời, ta vẫn sống nhờ tre lắm. Một đời người, mới sinh ra ta được mẹ đặt nằm nôi (tre) tuổi thanh niên, trung niên ta lao động kiếm sống với những dụng cụ cuốc, rựa, câu liêm, gàu tát nước… Cái gì cũng có một bộ phận hay cả toàn phần làm bằng tre;  thời lão niên, không làm gì nổi nữa, ta ngồi nhà, phe phẩy quạt nan (tre) tới khi trăm tuổi nhắm mắt xuôi tay, có đứa con hiếu thảo cắm hai cọc tre trên đầu và chân mộ phần của ta, nó cũng đặt cái giường thờ thờ ta làm bằng tre (Vì hồi xưa nghèo lắm, ít nhà sắm nổi cái bàn thờ chân gỗ mặt ván)… Người nông dân trong các làng quê làm ruộng và làm thêm nghề thủ công.  Nhiều nghề thủ công là nghề đan nan tre, lấy nguyên liệu là tre, như nghề đan nia, thúng, giỏ bội, bầu nan, rổ xúc, vót đũa bếp, đũa con… Thế mà cũng góp phần nuôi sống được nhiều gia đình nông dân.

         Mỗi làng quê là một cộng đồng dân cư dựa vào lũy tre làng để chống trả lại mọi thế lực thù địch (từ thú dữ đến kẻ trộm cướp, giặc ngoại xâm..) đặng bảo vệ cuộc sống êm đềm, yên vui của làng quê.  Theo truyền thuyết, vào thời Hùng Vương thứ 6, cách đây hơn hai ngàn năm trước, nước Văn Lang bị nạn giặc Ân. Được dân làng đi theo, chàng trai nọ thuộc làng Phù Đỗng (tục danh là làng Gióng), sinh ra khác thường, và có tài ba ý chí cũng khác thường lắm, ngày kia đã nhổ bụi tre bên đường làm vũ khí lợi hại, rồi thót lên lưng ngựa sắt phun lửa xông ra trận tiền đánh đuổi quân giặc. Thắng trận xong, chàng trai lên núi Sóc Sơn, rồi bay lên trời và được Vua phong là Phù Đỗng Thiên Vương. Ta còn nhớ, thời 9 năm đánh Pháp, ta có vũ khí là chông tre, gậy tầm vông vạt nhọn; làng quê nào cũng cắm dày cọc phòng không bằng tre để chống quân Pháp nhảy dù xuống chiếm làng…

          Tre tô điểm vẻ đẹp cho cảnh vật làng quê, khiến ta yêu say đắm. Làng quê ta đẹp lên với lũy tre, với buổi sáng mặt trời mọc le lói trên đầu ngọn tre; buổi trưa, từ rặng tre phát ra tiếng con chim gù rót điệu du dương; buổi chiều rặng tre xào xạc gió và tiếng sáo trúc mục đồng ngồi lưng trâu trở về nhà bay trong gió… Rồi với chạng vạng về, bóng đêm phủ xuống là lúc gương mặt chị Hằng lấp ló giữa hai rặng tre ở cuối thôn trang… Mỗi lần đi xa, nơi xứ người, ta không khỏi thương nhớ lũy tre làng ta, thương nhớ những trưa hè oi ả ta vẫn ngồi hóng mát dưới bóng rặng tre già; thương nhớ tiếng cuốc kêu ai oán đêm hè phát ra từ bụi tre mọc nơi góc vườn ta đó; rồi cảnh Đông sang, nhìn đâu ta cũng thấy:

 “Tre rũ rợi ven bờ chen ướt át” (Bến đò ngày xưa – Anh Thơ).

Ngay từ hồi xưa, cây trúc cũng đã xếp vào hàng Mai – Lan – Cúc – Trúc, thú chơi của hạng người tao nhã.

          Người nông dân gần gũi với tre, cho nên tre cũng cho họ bao chiêm nghiệm về cuộc sống, về đời người. Khi lâm vào cảnh nghèo khó, họ không bi quan; dẫu bản thân có gặp điều không may, họ tin mình “giỏ rách còn bờ tre”, tức là còn có “hậu phương” vững vàng. “Tre tàn măng mọc” là nói về sự nối tiếp của đời người. “Măng không uốn làm sao tre uốn được” câu nói dân gian đó, cho đến nay vẫn còn giá trị về mặt giáo dục lớp trẻ để dần đưa chúng vào luân thường đạo lý, tránh cho chúng tập nhiễm thói hư tật xấu ở chung quanh. Nhờ có tre mà tâm hồn chàng trai làng trở nên thơ mộng hơn, bóng hình nàng thôn nữ trở nên đẹp hơn:

 “Trúc xinh trúc mọc bờ ao

Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh

Trúc xinh trúc mọc sân đình

Em xinh em đứng một mình cũng xinh”…(Ca dao).

            Kẻ sĩ ngày xưa xuất thân từ ruộng đồng, nhìn tre bảo: “Tiết trực tâm hư” (thân thẳng, lòng rỗng không), đó là biểu tượng của bậc đạt nhân, quân tử. Người nông dân đã từng cầm rựa đứng trước bụi tre, mỗi lần nói về chặt tre, anh không khỏi nhớ lại kinh nghiệm bản thân mình và kinh nghiệm của người khác truyền cho anh:

 “Nhứt đánh giặc, nhì chặt tre

Nhứt chặt tre, nhì ve gái” (Tục ngữ).

         Nói đến cây tre, tôi lại nhớ cái “tủ sách” kỳ lạ mà tội nghiệp của ba tôi ngày xưa. Ba tôi đang học chữ Nho với một thầy đồ thì gặp thời buổi đổi thay, ông chuyển sang học chữ Quốc ngữ, rồi đi thi lấy bằng Sơ học Yếu lược, tương đương lớp 3 bậc Tiểu học bây giờ. Ông tự “đóng” cho mình một “tủ sách”. Tủ sách của ba tôi là những đốt tre ngâm được cưa cắt khéo léo. Hai đầu đốt tre là hai mắt: Một mắt làm đáy và một mắt làm nắp, đằng nắp được khoét đậy khít khao. Sách và các loại giấy tờ (như trích lục ruộng đất, khai sinh, giá thú… ) ông cuộn cất vào đó, đậy nắp kỹ, rồi cột dây treo lên rường nhà. Nhìn lên rường nhà, thấy “tủ sách” của ba tôi treo lủng lẳng những ống tre, những ống tre dùng lâu ngày đen bóng lên. Vì sách và giấy tờ của ba tôi nhiều, cho nên lũ con của ba gọi, đó là một “tủ sách” to, còn to hơn tủ sách của ông Huấn đạo Trần Nghĩa ở  trong làng.

          Một hôm ba tôi đang “kiểm kê” sách (ghi tên và đánh số cuốn sách trên các ống tre) có tôi giúp ông một tay. Ông bảo: “Hồi xưa chưa có giấy, những sách này được làm bằng tre, viết trên thẻ tre; sách dày thì nhiều thẻ tre ghép lại, sách mỏng ít thẻ tre hơn. Tần Thủy Hoàng, Đường Minh Hoàng… là những ông vua ham đọc sách, chỗ vua ngồi đọc, trước mặt chất cao những bó thẻ tre, đó là những bó sách. Vì sách viết trên thẻ tre, cho nên, mới có mấy cuốn sách thôi mà đã thành một gánh sách nặng. Và bởi thế mà học trò đi học trường xa, phải có đứa tiểu đồng gánh sách đi theo. Còn sách lịch sử thì gọi là thanh sử, tức sử xanh, là sử viết trên những thẻ tre:

 Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh (Truyện Kiều – Nguyễn Du).

           Con đã học tới lớp Nhì, con có biết, thanh sử là như thế không?”.

           Thời nay, cây tre ít dùng. Làm nhà cửa? - Có gạch ngói, xi măng, sắt thép. Làm thúng rổ? - Có nhựa, có nhôm. Làm bàn tủ? - Có gỗ, sắt, INOX. Đun bếp? – Có bếp ga… Thuyền câu của Nguyễn Khuyến thời xưa, chắc là thuyền nan:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Chứ thuyền câu của các “ngư phủ” thời nay mà tôi thường thấy là thuyền INOX, thuyền sắt tây. Cho nên, cây tre thừa ra, lũy tre làng dần thưa thớt, không còn đủ sức bao quanh làng nữa để che khuất tầm nhìn (xa trông rộng) của người nông dân (đó cũng là cái may chăng?); nhiều nhà không còn có bụi tre nơi góc vườn, cho lũ chim thường bay về đậu, cất tiếng hót líu lo để cho người ta thêm tình yêu cuộc sống. Hiện nay có nghe thấy, ở một số địa phương, người ta đang phát động phong trào trồng tre thành rừng (trúc lâm) như một cách làm giàu, vì mọi thứ của cây tre (từ thân lá cành đến gốc rễ..) đều dùng được, có giá trị kinh tế; nhất là măng tre là một nguồn thực phẩm được ưa thích nhiều. Mong rằng, phong trào này có kết quả để cây tre thân thương muôn đời của con người, một mai kia còn mãi.

H. K. B

Vườn cũ



Bây giờ, ngồi với tuổi bóng xế của mình, người ta hay nhớ quê, nhớ cha nhớ mẹ nay đã không còn, nhớ những kỷ niệm ngày xưa…Tôi cũng vậy, và tôi cũng hay nhớ những mảnh vườn cũ – nơi tôi tin rằng sẽ còn lưu giữ mãi mãi những kỷ niệm thời tuổi thơ của tôi.



Ngôi nhà của Ba Má tôi tọa lạc giữa một mảnh vườn rộng rãi. Từ tuổi lên tư - năm, hằng ngày tôi đã ra vườn dạo chơi một mình. Tôi thích cưỡi “ngựa phi đàng xa…” trên con ngựa gỗ Ba đặt ở một góc vườn, dành cho tôi. Vườn có bóng râm mát, cho tôi thích tung tăng với bóng mình, bóng lá trên đầu. Mỗi lần ra vườn cùng các chị, tôi luôn được chị hái cho ăn những quả ngon, thường là chuối, xoài, mận, ổi… chín bói hoặc dơi ăn dở, rứt từ trên cành xuống.



Tuổi tôi mỗi ngày mỗi lớn và mỗi ngày tôi thêm quấn quít với mảnh vườn nhà mình: Đi học về, vội nhảy ra vườn; leo trèo, hái quả, “múa gậy vườn hoang” (lời các chị mắng tôi) …là ở vườn. Tôi cũng hay rủ bạn nhỏ hàng xóm sang chơi. Nhiều khi, chúng tôi chọn một góc vườn làm “sân khấu” cho một “đêm” hát bội. Tuồng tích để diễn thì mới vừa xem nơi lễ hội đình làng, còn mũ mão, xiêm, giáp, chằm bằng lá mít, lá chuối; lấy mo tre, mo cau, tổ dồng dộc làm giày hia, trông cũng oai lắm. Tôi cũng đã không ngại, sau cuộc chơi xong, vẫn thường đãi bạn một mâm ngũ quả chín… héo (thường thì chuối ngả non, xoài rụng…) mà tôi đã ra công thu gom để dành từ hôm trước.



Tôi nhận ra mảnh vườn quanh năm cho mình nhiều hương thơm và mật ngọt. Tháng giêng – hai, tôi được hưởng cái ngan ngát thơm hoa bưởi, hoa chanh, hoa xoài, hoa mận…Tháng ba – tư - năm, tôi được hít thở khoan khoái mùi thơm lựng mật ngọt của đủ thứ trái chín: xoài, mít, mía mưng, nhãn lồng, ổi xá lị…Tôi có cảm giác mùi đó nó đang đặc quánh ở trong vườn, cho tôi hít thở no nê, đã đời, lấy đó làm niềm hạnh phúc của một cậu bé con tham ăn và hảo ngọt. Đây là lúc mùa Hè đến, mùa trái cây chín. Những năm đi học xa nhà ở trường Phủ An, cứ đến Tết Đoan Ngọ tôi được về nhà ăn tết với gia đình, ăn một cái tết mà người ta gọi là “Tết trái cây”. Má bảo, Hè đến trái cây chín rộ, cho nhà nhà có nhiều hoa trái mà ăn Tết, dâng cúng ông Khuất Nguyên, mỗi năm một lệ vào ngày mồng năm tháng năm. Hồi đó, tôi thắc mắc, không biết sao, mọi nhà cúng ông Khuất Nguyên bằng trái cây? Rồi cũng Má trả lời, bởi ông ta là nhà thơ có tâm hồn rất mực thanh tao, cao nhã. Tháng chín - mười gió mưa sụt sùi, lụt lội, tôi không thích đi đâu, chỉ thích ngồi nhà nhìn mưa rơi ngoài vườn. Một cái vườn sũng nước, một màn mưa trắng đục, cây cối vật vã và nhòa trong cơn gió mưa. Nhiều lần trong cảnh ấy, tôi được nghe chú Tư (em trai Ba tôi) đi học College Quy Nhơn về, đứng ngồi trông mưa mà hứng thú ngâm thơ: “Mưa chi mưa mãi / Lòng nhớ nhung hoài / Nào biết nhớ nhung ai!...” (Lưu Trọng Lư). Giọng ngâm thơ của chú như lời năn nỉ, thở than, một niềm nhung nhớ xa vời vợi…nó bắt tôi phải mủi lòng đồng cảm với tác giả bài thơ và thương cho chú mình, thương cho cái tâm hồn đa sầu đa cảm của chú. Những khi Ba Má đi về Ngoại, có dẫn tôi đi. Có phải chăng, tại mảnh vườn cho tôi nhiều thụ hưởng, cho nên đi đâu xa ít ngày là tôi nhớ vườn và cứ mong về? Tôi nhớ nhất, con ngựa gỗ ngoài vườn Ba cho, để tôi “cưỡi phi đàng xa”, nhớ những cây lành, quả ngọt ở trong cái  vườn mà sau này hồi tưởng lại, tôi không khỏi bảo, đó là cái vườn địa đàng tuổi thơ của mình …    



Tôi thích làm vườn. Được nghỉ học, thế nào tôi cũng ra vườn để cùng Ba Má, cùng chị xách nước tưới cây, cắm thêm cành chái cho dây dưa leo đang tìm chỗ bò, săm soi mấy nụ hoa cà tím tím vừa có con ong bay về thụ phấn, rồi bay đi… Công việc tôi làm, nhiều khi không thành, để cho Ba phải sửa lại, các chị có cớ mắng rằng, tôi là thằng táy máy, con khỉ thấy gì cũng bắt chước. Đi ngoài đường, gặp cây ổi chim ăn rớt hột, mọc bờ mương, tôi nhổ đem về trồng góc vườn; trồng thêm cây chanh, cây bưởi bên thềm giếng cho thêm hương thơm những khi mẹ và các chị ngồi gội tóc…



Tôi không thể không nhắc tới vườn chùa Phước Đức của làng tôi. Tòa chánh điện của chùa thấp thoáng dưới tán xanh um cổ thụ, cổng tam quan soi bóng nước hồ sen dập dờn phía trước. Vườn chùa Phước Đức rộng rãi, râm mát bóng những hàng cây hoa đại, hoa ngọc lan, cây thị sai quả ngan ngát mùi thơm; đứng sừng sững từ bao giờ những ngôi bảo tháp mà tôi biết đó là nơi cất giữ hài cốt của các vị Tổ quá cố của chùa. Mỗi lần đi trong vườn chùa tĩnh lặng, tán lá mát rượi trên đầu, tôi luôn cảm giác rằng đây là một cảnh giới đã lọc hết bụi trần vốn gây bao điều khổ đau, phiền não cho con người.



Và tôi cũng có những mảnh vườn hoang để cùng chúng bạn lui tới, thường là các bạn chăn thả trâu bò. Vườn hoang đa phần là vườn vô chủ, bày ra cảnh nền cũ, giếng lạn, đâu cũng trùm lấp lá khô và cỏ dại. Cũng còn lại vài bóng cây cao đứng ở mấy góc vườn. Đến vườn hoang, lũ trẻ nhỏ này thích lục lạo, tìm kiếm cái quả ngon, vật lạ: chùm trâm chín tím, chùm chà là chín sẫm, quả trứng cá chín đỏ, chùm sung hườm hườm… Có cái vườn hoang, hôm bới đất chơi, trồi lên ông bình vôi bằng sứ men xanh mà sứt miệng, cái xâu đồng tiền nửa han rỉ, hỏi ra, biết là tiền Quang Trung Thông Bửu…Thằng cu Lia, cu Mọi đi đâu cũng thủ sẵn ná cao su, chực bắn cái này, vật nọ. Nhưng vào vườn hoang, chúng chỉ dám bắn con cu cườm nhảy mặt đất, con chim cuốc lủi bờ rào, chứ đâu dám giương ná bắn con chèo bẻo, con chim khách tinh nghịch trên cành cây cao, ỉa sọt sẹt cục cứt trắng non, rớt xuống đầu chúng. Vì chúng sợ hòn đất vô tình bắn ra nhằm phải Cô Bà khuất mặt, linh thiêng đang ngự trên đó, như điều người lớn vẫn dạy bảo chúng, chớ đừng quấy phá mà bị quở. Nhưng người ta đã bảo đi đêm, gặp ma mà. Có hôm, ông chủ mảnh vườn hoang kia học đâu phép độn thổ thình lình xuất hiện giữa vườn, như vừa đội đất chun lên. Thế là ông rượt bắt bọn này, hụt hết, chỉ tóm được Cu Mọi. Chủ vườn xách tai nó đến hỏng chân cho đau trào nước mắt ra, và bảo để trị cái tội nó là thả trâu giẫm nát bờ rào vườn ông.



Vườn cũ bây giờ đã thay đổi nhiều. Ba tôi mới mất vài năm nay, nhưng ông đã không còn làm chủ ngôi vườn của mình từ mấy chục năm trước. Xã quê nhà, bây giờ đã là xã chuyên canh cây mai xuân và cây bonsai. Người ta đã có thói quen tính toán, một mét vuông đất đặt được bao nhiêu chậu kiểng. Mà chậu kiểng đặt đến đâu thì tre pheo, xoài, mận, ổi, cam, rau, ớt… phải nhường chỗ, cho nhà nào nhà nấy hằng ngày ra chợ mua rau, cà, chanh, ớt đem về ăn. Việc tính toán này chẳng những ở trong các vườn nông dân mà còn lan đến vườn chùa Phước Đức, cùng mấy mảnh vườn hoang trước kia chỉ để cho cỏ dại mọc. Cũng phải thôi, vì cây mai xuân và cây bonsai An Nhơn đang có thương hiệu mạnh, được cả nước ưa chuộng và đang tạo nên cảnh ăn nên làm ra vui vẻ cho vùng đất này.



Việc đổi thay những mảnh vườn nằm trong cuộc đổi thay cuộc đời chung ở một miền quê. Dẫu sao, tôi cũng không khỏi luyến tiếc những cái vườn cũ của quê tôi. Tôi nhớ nhung, luyến tiếc lắm tiếng chim vườn cũ, tiếng gió đập tàu tiêu, màu nắng râm mát, cái hương, cái mật của vườn…



H.K.B

Tác giả gửi www.trieuxuan.info
Số lần xem: 15bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ngày Châu Á của thi hào Mỹ Latin Pablo Neruda - Phan Quang 17.05.2012
Chùm tản văn gửi từ Bình Định (2) - Huỳnh Kim Bửu 17.05.2012
Chùm tản văn gửi từ Bình Định (1) - Huỳnh Kim Bửu 16.05.2012
Khi nhà văn thôi làm Bộ trưởng - Phan Quang 16.05.2012
Thành tích trên đầu lưỡi - Võ Phiến 14.05.2012
Xem tướng nhà - Võ Phiến 11.05.2012
Anh Bình Định - Võ Phiến 07.05.2012
Mưa và thơ - Võ Phiến 03.05.2012
Nhớ nhà văn "lão bản" Vương Trung Nguyễn Anh Tuấn 02.05.2012
Ông và cháu - Võ Phiến 26.04.2012
xem thêm »