.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu




Ký ức



Ký ức chạm vào quê hương
Cánh cò bay la bay lả
Tuổi thơ những ngày óng ả:
Mẹ, cha… và bậc thềm nhà.

Ký ức chạm vào trang vở
Mực tím, ngòi bút lá tre
Thả giữa sân trường tiếng vụ
Ù… u… như tiếng của trưa.

Ký ức chạm vào tình cũ
Giá đừng úa thếp trầu xanh
Dẫu mấy trăng tròn, trăng khuyết
Cứ như chưa lặn nguyệt Rằm.

Ký ức chạm vào ngày tháng
Rêu phong cho đến câu hò
Mỗi ngày một lần hóa thạch
Những liễu xanh soi mặt hồ…

Nếu như không còn ký ức
Quả thị sẽ rớt về đâu
Trầu cau ai trồng mà mọc
“Ngày xưa” Nội gởi chỗ nào?

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”


         “Mặn, nhạt, chua, cay, lẫn ngọt, bùi” (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm): Vị giác đó mà tình đời cũng đó. Món ngọt phong phú lắm: Bánh thuẫn, bánh in, cốm nếp, cốm ngô… Mà phải chăng, trong đó chè là món thứ nhất?

       Chè nào chẳng nấu với đường và thường không thiếu các “gia vị” vẫn dành cho nồi chè: Dầu chuối, gừng, va – ni, lá dứa…
      Chè tổng hợp là món chè thường gặp nhất ở nông thôn, tức nông dân thường ăn nhất. Chè chế biến từ đậu đen, nếp, đậu phụng (rang, nguyên hột). Tại sao nông dân thích ăn chè tổng hợp? – Vì trong các gia đình nông dân vẫn sẵn có những thổ sản này. Chè tổng hợp nấu đặc. Người nông dân thích ăn đặc, cho chặt bụng mà cầm cày, cuốc, nên gặp món chè này thì phải lòng không gì hơn. Chén chè tổng hợp nóng, bốc hơi, tỏa đủ hương vị: Thơm - nếp, bùi - đậu đỗ, vị ngọt của đường tới. Người sành ăn sẽ ăn nóng, bẻ bánh tráng nướng giòn giòn, thơm thơm xúc ăn, cho thêm hương vị. Chén chè này, ăn nguội sẽ mất hết hương vị, bỏ cục đá lạnh (của thời nay) vào sẽ rất nhạt nhẽo; chế biến chè phải dùng đường đen (đường muổng hay đường tán) mới có vị ngọt đậm đà tính dân dã, nó không hợp với đường cát trắng, dành cho bữa chè khác của nhà khá giả.
      Chè thập cẩm thời nay là một sự “phát triển” của chè tổng hợp xưa, có thêm nhiều loại đậu đỗ để cho thành “thập cẩm”. Có thấy những quán chè thập cẩm dọn ra đến trên dưới mười cái xoang trắng tinh đựng chè, xếp thành hình vòng cung, giống như một dàn trống võ mà bà bán chè với những thao tác uyển chuyển nhanh nhẹn cũng giống như người nghệ sĩ biểu diễn dàn trống đó.  
        Chè đậu đen, nấu loãng, ăn với đá lạnh, có giá trị giải khát lắm.
        Chè đậu xanh, chế biến từ nếp, đậu xanh, đường cát vàng mỡ gà, thường gặp ở các nhà trung lưu trở lên. Chè này ăn với đá lạnh vừa mát miệng vừa đã khát.
         Chè đậu xanh đánh được chế biến bằng bột đậu xanh mịn, đường cát vàng hay đường cát trắng, đánh nhuyễn. Để nguội, ly chè đặc lại thành bánh, có thể cầm trên tay ăn.
        Chè đậu váng, nấu bằng đậu váng nguyên hột, cho bột mì nhứt và đường cát vào. Chè đựng trong ly, người ta thích ăn với đá lạnh.
       Chè đậu ngự, ngọt thanh, cắn hột đậu ngự, nghe thơm, bùi. Đậu ngự còn nấu canh với thịt nạc, xào với bún Tàu - thịt nạc đều ngon đặc biệt. Do vậy, nó thường để dâng vua, bởi thế mới đặt tên là đậu ngự.
       Chè hạt sen thường nấu dâng cúng Phật. Hạt sen còn làm mứt, ăn mứt hạt sen cắn túc tắc, rỉ rả trong Tết tư, đám tiệc, cũng vui, chẳng khác gì cắn hạt dưa.
      Chè chuối nướng - nước dừa - đậu phụng rang giã nhỏ là món chè bình dân, vẫn “kết bạn tâm giao” với giới lao động và học sinh ở các thành phố.
       Chè nếp nấu đặc, đựng trong chén, thường gặp trong những bữa cúng Các bác ngày sóc vọng hàng tháng, bên cạnh các đĩa xôi nếp - đậu xanh, đĩa củ lang luộc chín và những chén cháo trắng.
        Chè bắp, chế biến từ bắp non. Nấu sênh sếch hạt bắp non bào nhỏ với đường cát sẽ cho ly chè bắp ngọt thanh, ăn lợi tiểu, chẳng khác gì uống thuốc bắc.
       Chè trôi nước, chế biến bằng nguyên liệu bột mì vo viên, có nhân. Gọi là chén chè trôi nước, bởi vì những viên bột mì hình thoi bọc nhân là hạt đậu phụng rang, to bằng hạt mít, nổi trôi trong chén chè loãng. Chè ỉ khác với chè trôi nước ở viên bột mì. Viên bột mì, chính là viên chè. Nó to và tròn trĩnh như quả chanh, mang nhân đậu đỗ hay nhân dừa bào mảnh thành sợi, hương thơm, vị béo mà ngọt lịm.              Chè ỉ múc cả nước lẫn cái vào chén hay ly thủy tinh, sẽ bắt mắt, kích thích vị giác, vì cái viên chè to tướng nằm choán hết chỗ của ly chè.
        Bánh canh ngọt là món gần gũi, bà con dòng họ với chè. Món này chế biến bằng bột gạo, sú nước vào cho ướt đều, xe thành cọng to, dài bằng chiếc đũa con. Đoạn cầm trên tay, đưa tay ra ngang tầm nồi nước đang bắc trên bếp lửa, dùng kéo cắt cọng bột thành từng đoạn dài 5 – 10 phân, cho rơi thẳng vào nồi nước, kế tiếp cho đường vàng vào. Nồi bánh canh vẫn ở trên bếp, cho tới khi nào nghe mùi thơm của bột gạo chín, của đường tới, thì hạ xuống. Bánh canh dùng nhiều gia vị gừng (như chè đậu đen, chưa có bột va – ni, dầu chuối như ngày nay). Chế biến bánh canh xong, múc ra chén, bát vại, sắp vào mâm, bà nội trợ mời cả nhà ăn. Ăn uống tùy sức, ai hảo ngọt thì ăn bát vại. Đứa con nít nào hư bị người lớn đánh đòn, nứt lằn ngang, dọc ở mông đít, thì gọi là đã bị “cho ăn …bánh canh”!
        Chè bánh tráng là “sáng chế” của mấy chị em nhà nọ mỗi khi cha mẹ vắng nhà. Cầm dao, gọt đường tán vào bát đã có sẵn bánh tráng bẻ vụn, rồi chế nước sôi vào. Nhà 7 chị em, chế 7 đứa 7 tô, tức thì mỗi đứa có một tô chè bánh tráng, ăn cũng ngon như thường.
       Chè đông sương chế biến từ rau câu xay thành bột, đóng gói, bán ngoài chợ. Cho bột rau câu vào xoong nước đang bắc trên bếp hồng, nấu sôi, cho gia vị vào, rồi tắt lửa, hạ xuống, múc ra chén. Đợi nguội, nếu nấu loãng thì cho chè đông sương (đông mềm) nếu nấu đặc thì cho bánh đông sương (đông cứng). Ăn chè, bánh đông sương, nhớ xu xoa cũng chế biến từ rau câu, chỉ khác ăn xu xoa, nghe rõ mùi rau câu hơn, khiến cho người dễ mủi lòng nẩy sinh tình cảm nhớ biển …mặn. 
Thường thì chè đặc đựng trong chén, bát; chè loãng chứa trong ly. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào những gì có sẵn trong sóng chén của bà nội trợ nữa. Các bà nhà khá giả quản lý sóng chén, đã chia tô, chén, đĩa thành mấy loại: Chén ăn cơm, chén ăn chè (còn gọi tắt là chén chè) chén nước mắm, đĩa trái đào, đĩa con vịt bầu, chén da lươn…Chén chè là chén mỏng (thuộc nhóm đồ mỏng, đồ Tàu) don don, đứng trái, đáy sâu, đóng triện Nội phủ dưới khu chén, khác với chén ăn cơm lớn hơn, miệng rộng; chén nước mắm nhỏ, đáy nông. Như vậy, có chén chuyên dụng: Chén chè.
  
         Khi nào thì người ta ăn chè?
         Người ta vẫn thường ăn chè khi trong nhà đã có sẵn các nông thổ sản có liên quan tới nồi chè, xoong chè.
        Trưa, nhất là những trưa hè nóng bức, bà nội trợ chế biến sẵn từ hồi nào, dọn lên bữa chè đậu xanh hoặc đậu đen nấu loãng đãi cả nhà ăn. Ăn với đá lạnh. Ăn xong, được cái cảm giác mát rượi chạy khắp người, ông chồng hứng quá khen vợ mình đảm đang, lũ con bắt chước bố khen mẹ mình giỏi giang hết ý. Khách tới nhà chơi, được chủ nhà mừng rỡ, cầm chân mời ăn cơm trưa, ngủ trưa, xế thức dậy còn cho ăn chè (thói thường là chè tổng hợp), rồi mới được thả cho về. Người lớn, trẻ con hảo ngọt, trông cho luôn có dịp ăn chè và chắc đã có không ít lần thốt lên “tiếng lòng”: “Cu kêu ba tiếng cu kêu / Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè…” (Ca dao). Trong các làng ở quê tôi xưa, rải rác có quán chè, có những gánh chè bán dạo xóm, dạo đồng đang mùa gặt hái, đông người. Ở Quy Nhơn hồi cách đây vài mươi năm, đường Phan Bội Châu, đường Trần Phú… nối đuôi nhau các tiệm chè, bởi thế, được nhiều người gọi là mấy phố Chè, cho nó văn nghệ. Cũng thời đó, ai thích món chè chuối nướng, cứ chờ tối đến, đạp xe thẳng tới đường Mai Xuân Thưởng (đoạn gần Nhà hàng Trầu Cau bây giờ), lên Cầu Đôi…Ở các nơi đó, quán chè chuối nướng la liệt trên hè phố mà quán nào cũng đang đông vui những người hảo ngọt tụ lại. Còn các gánh chè bán dạo phố phường thì sớm trưa chiều tối, gánh nọ đụng đầu gánh kia. 

       Gu của người ta, ăn chè thường kèm với ăn xôi, chè – xôi vẫn đi đôi với nhau: “…Ăn chè rồi lại ăn xôi / Còn ba đòn bánh tét để dành hạ nêu” (Ca dao).
       Xôi được chế biến từ các nguyên liệu: Nếp, đậu xanh, đậu đen, đậu phụng, đậu ngự, gất, lòng gà, lòng lợn, trứng cút …Nói chung, nguyên liệu chế biến xôi, giống như chè, chỉ khác: Xôi không đường, nấu bằng chõ (1) để cho xôi vò hoặc bằng nồi để được cơm nếp. Người Bình Định làm mâm cỗ giỗ kỵ, tiệc tùng thường mãn tiệc bằng mời thực khách ăn món xôi: “Ăn xôi rồi việc” (Tục ngữ) cũng giống như xem tuồng tích, đòi phải có “hậu”. Ở Quy Nhơn có mấy tiệm xôi thơm bán buổi sáng ở các đường Nguyễn Thái Học, Trường Chinh… thường đông khách.

         Ngày nay, cái thú ăn chè đã giảm đi nhiều. Ở Quy Nhơn, những phố chè ngày trước nay chuyển sang bán buôn mặt hàng khác. Thậm chí, gánh chè rong phố, cũng đã ít gặp! Phải chăng, người ta ăn kiêng món đường ngọt, như kiêng thịt mỡ, da gà? Nhớ quá, những bữa chè với bạn bè Văn nghệ ở đường Phan Bội Châu (gần trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) tình bạn cứ thêm ngọt ngào!
(1) Dụng cụ nhà bếp bằng đất nung, giống cái vò nước nhưng đáy đục nhiều lỗ, thả lọt hòn bi ve. Khi nấu xôi, đặt chõ lên miệng nồi, trát đất kín chỗ chõ tiếp giáp với miệng nồi, rồi cho nếp nguyên liệu và các thứ thịt thà đậu đỗ vào chõ (Có lót lá ở đáy chõ), đốt bếp cho đến khi nếp trong chõ chín và thấm tháp thành xôi vò.



Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Mục đồng

     Làm nghiệp nông, bên cạnh anh thợ cày, chị thợ cấy…còn có chú bé mục đồng.

       Mục đồng là ai nhỉ? – Trong gia đình nông dân, thường có sự phân công: “Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”, thì đứa con trai lên mười cũng thường được giao cho “nhiệm vụ” cầm roi chận bò, như một cách giúp đỡ cha mẹ. Chú bé chăn bò được gọi là mục đồng. Nơi các làng quê, nhiều nhà nghèo phải đem đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn gởi cho nhà giàu nuôi làm trẻ chăn trâu thuê. Đây là “lực lượng” đông đảo trong giới mục đồng.

        Công việc hằng ngày của mục đồng là chăn dắt đàn trâu bò (nhưng cũng có khi là đàn ngựa, dê…). Sáng ngày, mục đồng dậy sớm lùa trâu ra đồng, cho trâu cùng với ông thợ cày bắt đầu một ngày cày bừa, làm cái việc nặng nhọc nhất của nhà nông. Việc cày bừa mà gặp phải khi “nông vụ tấn thời” thì phải từ sáng sớm đến chiều tối. Trong khi trâu sức cày bừa, thì mục đồng phải vừa chăn dắt mẹ con trâu cái vừa cắt cỏ non “nhận” đầy giỏ bội đặng kịp chiều về cho trâu ăn. Trâu là loài tham ăn, cho nên mục đồng phải chận, đừng cho trâu ăn cây lúa non ngoài đồng; trâu là loài hăng máu, không để cho trâu báng lộn mà mất sức; trâu là loài mạnh, không để cho trâu theo cái nhiều mà mất điều độ, xuống sức… Hằng ngày, chăn dắt trâu mà để trâu đói, bị muỗi mòng đốt, đỉa cắn, không sạch sẽ…là lỗi của mục đồng. Gặp thời buổi nhiễu nhương, bọn kẻ gian lừa bò trâu trộm đông như rươi, mục đồng còn phải ngày đêm canh giữ, không để trâu bị lừa trộm. Vì mất trâu là mất cái đầu cơ nghiệp của nông dân. Mục đồng phải làm lụng tối ngày, vất vả, khổ cực lắm. Trẻ chăn trâu thuê đâu chỉ chăn trâu mà còn phải làm bao việc “bế em, xay lúa” cho nhà chủ nữa.

        Xưa nay, người ta vẫn hay nói “cái thú chăn trâu”. Nói để thi vị hóa nghề chăn trâu khổ cực cũng có, nhưng để mô tả một sự thực cũng có. Thú chăn trâu, trước hết phải kể thú cưỡi lưng trâu, vuốt đuôi trâu, sờ sừng trâu, đội nón mê như lọng che, ngồi mình trâu thổi sáo…Ngồi mình trâu không thú sao có Lão Tử cuối đời cưỡi trâu mà biến mất, không còn để lại tung tích gì hết; Đinh Bộ Lĩnh cưỡi trâu tập đánh trận; Nguyễn Công Trứ “nhạc ngựa bò vàng đeo ngất ngất ngưởng” đến Chế Lan Viên cũng tự xưng: “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu” (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh, trong tập Thơ Chế Lan Viên, NXB Đồng Nai – 2006) ? Kế đó là đủ thú chơi khác với bạn mục đồng cùng trang lứa: Nào thú, tập họp lại 9 – 10 đứa bạn để chia 2 phe chơi cờ lau tập trận như Đinh Bộ Lĩnh hồi xưa, hát ống, hát đồng dao, đá kiện, đá cầu…Chơi một chỗ chán, kéo nhau đi, lùng sục trong các đồi gò, sông suối tìm cảm giác mới lạ: Bắt gặp chỗ này những chùm chim chim, dú dẻ, chà là chín; chỗ kia chim kêu vượn hót; nơi nọ con suối chảy cá bơi, hoa rừng nở … mà ngất ngưởng, hạnh phúc bảo với nhau rằng: “Đó là vườn địa đàng, là thế giới riêng của chúng mình”. Chăn trâu không thú, sao nhiều học trò trường làng, trường tổng vẫn tranh thủ thời gian được nghỉ học để đi chăn trâu, chơi với bạn chăn trâu? 
 
       Những câu chuyện về mục đồng được chép trong sử sách không ít. Sử sách Việt kể, Đinh Bộ Lĩnh thời trẻ đi chăn trâu và thường tổ chức cho các bạn mục đồng tập đánh trận, lấy bông lau làm cờ hiệu lệnh, sau lớn lên ông thành người tài, cầm quân dẹp loạn 12 sứ quân rồi lên ngôi vua, xưng Đinh Tiên Hoàng. Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ, khi phải rời bỏ xứ đàng ngoài để đi vào xứ đàng trong tìm minh chủ, ông đã phải vào ở chăn trâu cho một gia đình giàu có (ở phủ Hoài Nhơn - Bình Định) mà chờ thời. Sau nhờ có quan khám lý Trần Đức Hòa tiến cử mà Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên trọng dụng. Chuyện Ninh Thích chăn trâu trong sử sách Trung Quốc xưa, ai cũng biết: Ninh Thich đời Xuân Thu, xuất thân là người có tài kinh bang tế thế mà thuở hàn vi vị ngộ phải đi ở chăn trâu, sau nhờ có người tiến cử mà vào được dưới trướng Tề Hoàn Công, lập công to, làm quan tới chức Đại phu. Vào các làng quê, người ta dễ gặp những cái miếu cổ mục đồng, xây bằng đá ong và vôi vữa lở lói, tọa lạc giữa đồng không mông quạnh, tựa lưng vào ụ gò mối, bụi cây dúi già hang hốc. Có lẽ ban đầu, đó là một túp lều lá mục đồng dựng lên để trú mưa nắng lúc ở giữa đồng, rồi sau phát hiện ra điều gì linh thiêng, mới lập nên miếu thờ. Ở làng Phong Lệ thuộc xã Hòa Châu - huyện Hòa Vang – Đà Nẵng, có lễ hội mục đồng tổ chức 3 năm một lần tại đền Thần nông ở trong làng. Đây là một lễ hội nổi tiếng cả nước. Lễ hội diễn ra 3 ngày đêm, trẻ chăn trâu được tập họp lại để diễu hành, rước xách và để cho mọi người… tôn trọng.
 
       Trong thơ, họa, bài hát, thường gặp hình ảnh mục đồng, nhất là những sáng tác về đồng quê, hồn quê hương trong nỗi thương nhớ của người xa xứ…Có bài thơ thật hay: “Phong như lợi kiếm ma sơn thạch / Hàn tự tiêm phong thích thụ chi / Viễn tự chung thanh thôi khách bộ / Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy” (Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù), đã được dịch: Gió sắc tự gươm mài đá núi / Rét như dùi nhọn chích cành cây / Chùa xa chuông giục người nhanh bước / Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay. Bằng nghệ thuật thi vị hóa, bài Tập đọc sau đây vẫn đọng lại trong bao thế hệ học trò: “Ai bảo chăn trâu là khổ? – Không, chăn trâu sướng lắm chứ ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bươm bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng! (Quốc văn giáo khoa thư – bài Chăn trâu). Ca dao tả mục đồng chăn trâu không phải ít: “Chú Cuội ngồi gốc cây đa / Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời / Cha thời ở tận trên trời / Con trâu ăn lúa no thời tắm sông”; “Con cóc ngồi góc cây vông / Chép răng chép lưỡi đợi mục đồng đi qua / Mục đồng nhắm mắt đi qua / Chép răng chép lưỡi chửi cha mục đồng”. Vẽ mục đồng chăn trâu là đề tài và cũng là nguồn cảm hứng của các nhà nghệ sĩ, nhất là các nghệ sĩ vẽ tranh dân gian Đông Hồ. 



Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

Em ngồi gội nước hương chanh

Huỳnh Kim Bửu

Về quê hóng gió la đà
Hóng con mắt nhớ, hóng bà con xa
Hóng trăng non, hóng trăng tà
Gió đưa gió đẩy áo đà sư cô.
Về quê tắm mát sông Ngô
Hỏi bờ lau lách trắng cờ làm chi?
Hỏi cô em đứng nhu mì
Đợi đò hay đợi xuân thì cầm trao.
Về quê ngủ với cào cào
Mắt kia thì ngủ, mắt này nhìn mây
Mây nào phủ ngọn hàng cây
Mây nào xuống thấp cho ai xây thành?
Em ngồi gội nước hương chanh
Tóc em thơm hết tuổi xanh tôi rồi.
Sông trôi con nước cũng trôi
Chín chiều ra bến ngó đôi nhạn hồng
Be the first to like this post.

20 phản hồi

  1. Xin chào các bạn đã góp ý, các bạn thật vui, đã làm cho thơ tôi có chỗ đứng và tôi có thêm niềm tự tin. Tôi không tin bagia vuitinh là bagia mà trái lại! Xin cảm ơn và chúc các bạn vui khỏe. Thân mến, HKB.
  2. Tui đã được tham dự Buổi giới thiệu tác phẩm tác giả Huỳnh Kim Bửu tại Câu lạc bộ thơ Xuân Diêu tổ chức ( tháng…)năm 2010. Tui cũng được đọc nhiều bài thơ của anh mang đậm nét những hình bóng quê hương, tình bạn bè, tình làng nghĩa xóm, tình thương gia đình…tất cả được vẽ nên như những bức tranh tuyệt đẹp, mộc mạc mà sống động .
    Hy vọng anh sẽ giới thiệu thêm nhiều bài của anh trên trang web này để anh chị em cùng thưởng thức nữa nhé !
  3. on 21.02.2011 lúc 09:25 | Trả lời TRẦN BÁ NGHĨA
    đồng sim nước loáng xói cồn
    hầm hô đá chởm nước mòn lạch khe
    xa xa trắng cát xanh tre
    cô em lội ngược quần che nghiêng đầu
    kôn giang ai gọi hà giao
  4. Bài thơ nhẹ nhàng tình cảm chân quê mà dễ thương ghê.
    Chúc nhà thơ HUỲNH KIM BỬU khoẻ, vui , và tràn ngập niềm hạnh phúc trong mùa xuân mới nhe.
    Thân mến.
  5. Bài thơ anh HKB. vẽ một bức tranh chân quê thật nhẹ nhàng, thật hay.
  6. Thơ nhẹ nhàng dễ thương! với nét chân quê!thật đẹp.
  7. Thơ hay lắm, nhẹ nhàng,dễ thương.
  8. on 20.02.2011 lúc 18:30 | Trả lời TRẦN BÁ NGHĨA
    sông trôi con nước cũng trôi…dìa quơ ngủ dí cào cào
    đã quá sá trời lun
  9. Bài thơ nghe nhẹ nhàng, mơn man như hương đồng cỏ nội!
  10. THƠ HAY, ĐẬM ĐÀ HỒN DÂN TỘC
  11. Bây giờ thì đã có sunsilk hương chanh rầu…nhưng thơ vẫn cứ hay như thuở nào
    • Chị Nhõng quơi ! sao kỳ dẫy ta….theo em là :….nhưng hương chanh ngày đó vẫn thơm như thuở nào ! được hông chị ?
  12. Thơ hay lắm, mà hình lại đẹp….sao hao hao Xù và Nị hè !
  13. Thơ nhẹ nhàng như gió như mây…..bức tranh quê đẹp quá Anh Bửu ơi !

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011



Thơ Huỳnh Kim Bửu


Tháng giêng



 Tháng giêng nghiêng chiều xuống mắt nai
  Nghiêng những tình xa nhuộm tím ngày
  Nghiêng em tròn mộng trăng mười sáu
  Nghiêng một lần thôi giọt rượu cay.

  Tháng giêng ai rót màu nắng mới
  Rót xuống sân đình áo mở ba
  Rót câu trung hiếu vào nam khách
  Rót đến trăm năm vị đậm đà.

  Tháng giêng viền cỏ mượt chân đê
  Sông chảy đò xa lạnh bến quê
  Làm sao người chẳng viền nỗi nhớ
  Treo giữa xuân xanh mấy trăng thề?

  Tháng giêng hái lộc chùa Nhân Qủa
  Lộc chùa ta hái những sắc – không
  Em có hái mười năm tình cũ
  Làm yên cương cho một sắc ngựa hồng!
Tản văn của Huỳnh Văn 


Làng cổ



Mới mấy chục năm thôi mà cái làng đã thay đổi nhiều lắm. Phỏng chừng không lâu nữa, có ai đó vì lòng hoài cổ, muốn tìm lại cái làng xưa để thăm một chuyến, e sẽ bị khó tìm, nếu không muốn nói ngay rằng không tìm đâu ra.

Phần nhiều, làng lập ven sông, từ xa nhìn thấy, làng phất phơ những khóm tre, ẩn hiện những xóm nhà, còn đồng làng thì trải rộng một màu xanh cây lúa non (hoặc màu vàng mùa lúa chín) tới phía chân trời. Con đường dẫn vào làng là hương lộ (nối làng nọ với làng kia), chạy qua cổng làng rồi chạy từ đầu làng đến cuối xóm, chạy suốt trong làng. Đường làng đắp đất cao, cũng gọi là bờ đổ (Ai đi bờ đổ một mình / Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba … – Ca dao), tạo nên con đê đầu làng để ngăn, không cho con sông đổ những cơn lũ lớn vào làng. Làng lập ven sông để sông dẫn nước vào ruộng đồng, và còn để dân làng sắm thuyền, sõng đi lại trên sông nước, tiện lợi hơn nhiều so với đường bộ thời đó. Nhìn làng, người ta thấy bao vẻ đẹp của phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người: Làng ta phong cảnh hữu tình / Dân cư giang khúc như hình con long / Nhờ trời hạ kế sang đông / Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi”…- Ca dao.

Người ta vẫn bảo, cuộc sống trong các làng quê diễn ra ở phía sau lũy tre làng. Nó thật thanh bình, mỗi khi ta đứng ngắm cảnh chiều: Một màu ráng chiều nhuộm đỏ da trời, một cảnh trâu bò về trên đường thôn, đó đây những cột khói un đồng vật vã trong gió, đàn trẻ nhỏ say sưa thả diều trên đê…Trên cánh đồng làng, nhà nông có hai mùa cấy cày cắt hái, vào tháng 3 và tháng mười mỗi năm. Đến mùa màng, ai cũng làm lụng vất vả, chân lấm tay bùn, còn đồng làng thì hứng giọt mồ hôi của nông dân. Cho đến khi, hạt lúa chín ngoài đồng được đem về nhà, phơi khô quạt sạch mà cất vào lẫm, vào bồ; những ruộng chân thấp, ruộng chân cao đều được cày cấy xong, thì thời gian còn lại là để cho nhà nông nghỉ tay, hưởng nhàn và chờ đợi mùa sau. Trong cảnh nông nhàn, các làng quê thường tổ chức tết tư, lễ hội, các cuộc vui chơi, giải trí. Tháng giêng có tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, tháng năm - Tết Đoan ngọ, tháng bảy - lễ hội Vu lan báo hiếu, tháng tám – tết Trung Thu…Người ta thường nói “Dĩ thực vi tiên”, cho nên có lễ tết là có tổ chức ăn uống, vui chơi. Tết Nguyên đán thì “Có nghèo cũng ngày Tết, có hết cũng ngày mùa” kèm theo hội làng với nhiều việc cúng tế đình đám, biểu diễn trò chơi dân gian (đánh đu, hội bài chòi, xổ cổ nhân…) và hát bội nơi đình làng, cho Thành hoàng chứng, đồng thời cũng để cho bàn dân thiên hạ xem.  Nhưng cuộc sống, mà cụ thể là cái ăn cái mặc, đâu có cợt đùa với nông dân, cho nên người ta còn phải tranh thủ nông nhàn để làm các nghề phụ như một cách kiếm thêm kế sinh nhai. Trong các làng quê, mỗi làng thường sở trường và nổi tiếng một vài ngành nghề riêng, để cho tên ngành nghề gắn liền với tên làng, như: Làng dệt Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng bún tươi Ngãi Chánh, làng nem - chợ Huyện…Ở Bình Định, vẫn lưu truyền câu ca dao: Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ / Nón Gò Găng khắp chợ mến thương – Ca dao. Nổi tiếng cả nước, có làng gốm Bát Tràng, tương Bần, nón  Chuông…Bên cạnh những làng nổi tiếng vì nghề, còn có những làng nổi tiếng vì là “đất vua” “đất học”, như làng cổ Đường Lâm (thuộc thị xã Sơn Tây – Hà Nội) là đất hai vua Phùng Hưng, Ngô Quyền cùng có nhiều danh sĩ, làng Kiên Mỹ có Bảo tàng vua Quang Trung xây dựng trên vườn nhà cũ của ba anh em nhà Tây Sơn, làng Phú Xuân có nhà lưu niệm nữ tướng Bùi Thị Xuân tọa lạc trên vườn nhà cũ của thân sinh ra bà… Nhờ là làng của thế tộc trâm anh một phần, và phần nữa là nhờ một bài thơ hay mà thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, được người xa gần ít ai không biết: Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chư điền… - Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn Mạc Tử.
Trên có nói cuộc sống của làng là thanh bình, nhưng không phải làng không có hồi bất trắc, tai ương. Đó là lúc bị thiên tai bão lụt mà sinh đói kém, lúc bởi sa cơ thất thế mà nghèo… Và cũng lắm khi là bởi địch họa mà điêu tàn. Cho nên, trong làng luôn có câu “Tình làng nghĩa xóm” để nhắc nhở nhau sống đoàn kết, hòa thuận; “Lá lành đùm lá rách” để hô hào cứu giúp nhau mỗi khi gặp phải khó khăn, hoạn nạn. Câu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” nói lên ý chí của toàn dân trong việc chống lại giặc ngoại xâm để bảo vệ làng, cũng như bảo vệ giang sơn - Tổ quốc.
Nói cuộc sống diễn ra sau lũy tre làng, nhưng không phải làng cô lập mà là làng mở, giữa các làng luôn có sự quan hệ gần gũi với nhau: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông; Trai An Thái - gái An Vinh…Anh về bến Gỗ thăm cha / Tháng giêng em đợi, tháng ba em chờ / Ngó lên hòn An Tượng mây mờ / Thương người mòn mỏi đợi, giọt mưa trời cũng rơi nghiêng – Ca dao Bình Định.      

Lẽ đương nhiên, làng có ruộng đồng xanh tốt, làm nên sự trù phú, cho Đất lành chim đậu. Nhưng kìa, còn có những làng đất hẹp người đông, đồng chua nước mặn, phải mò cua bắt ốc kiếm sống mà cứ cầm chân người ta ở lại. Câu “Bỏ làng ra đi” là một câu chê trách những ai nỡ rời khỏi làng; dân ngụ cư bị coi khinh, vì đã một lần “bỏ làng ra đi”…Người ta có nhiều lý lẽ để ở lại làng. Nếu đi xa vì tìm sinh kế, người ta tự bảo ban: Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo; Gánh cực mà đổ trên non / Cắm đầu chạy trốn, cực còn đuổi theo... Người trọng cội nguồn thì đem câu: Nơi chôn rau cắt rốn, nơi mồ mả tổ tiên…mà tự an ủi, dẫu đói no cũng ở với làng. Bởi lẽ thị phi đó, cho nên ai bị cảnh ngộ nào đó phải rời xa làng, phải cách trở làng thì thương nhớ làng, khao khát một tình quê, một ngày về: về với làng cũ, cảnh xưa, với hình bóng mẹ già đợi trông: Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran / Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn / Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn / Tóc bạc trông chừng cổng héo hon…- Cố Quận, Quang Dũng. Người nghệ sĩ nặng một tình quê đã đành, đến người làm quan to, cũng không kém, vì đã có không ít ông quan về hưu quan trí sĩ ở quê nhà, sống đời dân dã với dân làng: Chú Đáo bên đình lên với tớ / Ông Từ xóm Chợ lại cùng ta - Nguyễn Khuyến, và đến khi mãn đời, về cõi chẳng mô tê (thơ Xuân Diệu) thì gởi lại nắm xương tàn nơi quê cha đất tổ.

Hình như biểu tượng của cái làng cổ là cái cổng làng: Cổng làng xây gạch, loang lổ, lắm rêu phong, mọc trên hai mái cổng những cây ổi tàu xen lẩn cây bầu rượu, dây leo bìm bìm… với cảnh mỗi sớm mai: Cổng làng vội mở ồn ào / Nông phu lững thững đi vào nắng mai - Bàng Bá Lân. Còn bao nhiêu nữa những cảnh, những tình của làng xưa: Hàng cau liên phòng, ngõ trúc quanh co, con đò khua nước đêm trăng, những người vợ trẻ trông chồng đi xa về, những nỉ non tiếng đàn bầu đêm khuya khoắt…Phần nhiều, những gì đáng yêu, đáng quý kia đã vắng bóng và được thay thế bằng cuộc sống hiện đại, mặt nào đó có thể nói lắm cộ nhiều xe, lắm âm thanh hỗn tạp, lắm những tình cảnh cô đơn... Dù sao, cũng phải ghi nhận, hiện nay đang có phong trào xây dựng lại những cái cổng làng, nhưng những cổng làng đó vẫn không nói lên được cái hồn làng của ngày xưa.
  
Ôi, trong cuộc phát triển không ngừng ngày nay, liệu làm sao mà lưu giữ được mảnh hồn làng có tuổi 4000 năm như một bảo vật của tổ tiên, của các thế hệ ông cha ban tặng cho đàn hậu thế? Chớ không như có nhà thơ đã báo động: Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi -Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. 

 
    



Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


 Chùa làng

Dân gian ta có câu:
“Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.
Hiếm có làng nào vắng bóng một ngôi chùa. Chùa làng tôi có tên hiệu là chùa Phước Đức, quanh năm thiện nam tín nữ đi về rất đông.
Chùa Phước Đức ở trên một đồi cao, xa khu dân cư đông đúc. Chùa xây gạch lợp ngói, trước chùa có hồ sen, có cổng tam quan, kế tiếp là sân chùa và các ngôi nhà tổ, nhà khách, nhà tăng, nhà trù…Vườn chùa có mấy ngôi tháp cổ chôn cất hài cốt của các đời Tổ. Từ xóm Nhân Từ nhìn lên, chùa giống như một bông hoa sen tinh khiết nở giữa đất trời cao lộng và trong veo; con đường đất dẫn lên chùa giống như con rắn khổng lồ dài đến mấy trăm thước đang trườn mình bò lên chùa mà cái đầu rắn thì đã ở cổng tam quan, còn cái đuôi ở xóm Nhân Từ. Nghe nói vị sơ tổ của chùa là một vị cao tăng người Hoa, đến tu ở chùa Thánh Đức cách không xa, rồi lên đây lập chùa, vì thấy cảnh ở đây đẹp.
          Bà tôi tuổi già sức yếu vẫn siêng năng về chùa. Tôi nhớ lắm hình bóng bà ngồi xếp bằng trong chánh điện, tay lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Những lúc ấy nhìn bà, tôi thương làm sao tóc bà bạc trắng, cái lưng bà còng và niềm tin cùng sự thành kính của bà trước Đức Như Lai. Người cao tuổi trong làng nói với con cháu: “Trẻ vui nhà già vui chùa”, nhưng thực tế, mọi thế hệ đều muốn lấy việc tìm về chùa làm niềm an lạc nơi cõi lòng. Người trung niên về chùa tìm sự thư giãn, quẳng đi những gánh lo âu của bao việc đời thường. Lũ trẻ con chúng tôi thích về chùa để được gần Bụt như trong truyện cổ tích, được tung tăng chạy nhảy trong vườn chùa râm mát những bóng cây cổ thụ. Mới đầu tháng tư Am lịch, mọi người đã mong cho tới ngày trăng tròn có lễ Phật Đản, mới đầu tháng Bảy, đã mong tới Rằm Vu Lan báo hiếu và xá tội vong nhân. Thế nào trong những ngày ấy, trẻ nhỏ cũng được mặc áo lam theo người lớn về chùa lễ Phật, xem lễ, xem múa lục cúng, phóng sanh đăng… Tôi thấy người làng tôi, ai ai cũng thích “về chùa”, “lên chùa”. Nhiều người nói, nhờ lên chùa mà lòng thêm thương mẹ già, biết thêm về đạo hiếu, đạo lớn nhất trong giáo lý Phật giáo:
 “Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền” (Ca dao);
 biết thêm về đạo cứu khổ cứu nạn chúng sinh:
 “Dẫu xây chín bậc Phù đồ
 Không bằng làm phước giúp cho một người” (Ca dao).   
           Nhờ lên chùa mà bao người thêm yêu cảnh chùa:
”Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh).
           Bà tôi, cũng như những người cao tuổi trong làng, bảo con cháu “khép” sẵn quan tài cho mình, gọi đó là cái “thọ đường” để “dưỡng già”. Những cái “thọ đường” đó thường được gởi ở chùa, đến khi có việc “hậu sự” mới được lấy về. Ông bà mình thật đã xem cái chết là một cuộc “sinh ký tử quy”, là điều chấp nhận. Có lẽ nhờ vậy mà họ sống vui tươi và coi cái chết cũng nhẹ nhàng hơn.
         Ở trong làng An Định xưa, quý thầy ở chùa là những người có học vấn nhất, cho nên ai có việc gì cũng về chùa thưa với thầy. Ông Hương bộ Cảnh làm ăn khá lên,  định làm một việc “bách niên” là cất ngôi nhà cặp ba gian hai chái, một hôm về chùa thưa thầy chỉ vẽ, bảo ban cho. Ông Bầu Đước về chùa thưa thầy “cho chữ” để về làm một tấm liễn thêu đi mừng thằng cháu họ “thập niên đăng hỏa”, vừa mới thi đỗ ở trường thi hương Bình Định. Bà Hai Hành có thằng con trai hư, sa đà nát ruợu, cha mẹ dạy không được, nay đến nhờ thầy dạy bảo nó. Anh Hai An nghèo lắm, ráng cất cái nhà tranh vách đất, giữa chừng thiếu chục cây tre, liền chạy về chùa. Nhà ai có ngày cúng giỗ, về chùa xin mấy bình hoa điệp, hoa cúc vạn thọ đem về cắm trên bàn thờ gia tiên (Hồi xưa, chợ Bình Định, chợ Đập Đá chưa bán hoa như bây giờ). Từ việc lớn đến việc nhỏ, người ta đều cần tới chùa. Thậm chí, những nhà hàng xóm láng giềng của chùa, tới bữa ăn, thiếu chén tương ngọt, miếng dưa cải chua, trái ớt cay chín đỏ… cũng vội vượt trổ rào băng sang chùa. Không ai ngại nhà chùa đóng cửa hay chú tiễu chùa có hôm thiếu lòng hoan hỷ. 
       Dân trong làng thức ngủ, đi làm đồng, đi chợ gần chợ xa, trẻ nhỏ chúng tôi đi học… đều làm theo tiếng chuông trống kinh hôm, kinh mai từ chùa vọng ra. Người đi làm ăn xa về, từ xa nhìn thấy nóc chùa, cổng tam quan chùa quen thuộc lòng đã nôn nao. Nhìn thấy chùa là biết rằng, chốc nữa đây mình sẽ tới nhà và cái cảnh “Thầy mẹ đợi em trông” (Xuân Tâm) như đang rõ dần trước mắt, níu chân mình chững lại.
       Những hôm chùa có ngày giỗ Tổ, người trong làng, chẳng cần bảo ban nhau mà ai cũng nhớ ngày. Vật phẩm thường được mang đến chùa trước ngày giỗ. Họ có gì cúng nấy, thường là gạo, nếp, rau quả, khuôn đậu phụ, chai dầu phụng… Đến ngày, ai cũng về chùa từ sớm để chung lo công việc nấu nướng, dâng cúng, bày bàn bày cỗ... Cúng xong, dường như với tâm thế người chủ nhà, sau khi dọn khách, họ mới cùng nhau ăn bữa cơm chay thanh đạm mà đầy tình đồng đạo, tình làng nghĩa xóm dưới mái chùa làng. Không ai lấy việc cúng dường nhiều hay ít thành chuyện để nói, mà nói với nhau về sự thành tâm, về những bằng chứng của việc “ở hiền gặp lành”, về những giáo lý của Phật giáo thể hiện sống động trong đời sống hàng ngày ở gia đình họ. Sư trụ trì, qúy thầy vẫn xuống làng tụng kinh cầu an hay cầu siêu cho bất kỳ gia đình nào hữu sự có tâm nguyện. Và người dân quê có vẻ như thực sự yên tâm nhờ các khóa lễ đó, vì họ tin rằng mình đã được cầu nguyện, được tế độ bằng lòng từ bi vô lượng của Đấng “Đại hùng lực”. Mỗi khi làng đến dịp “Xuân kỳ Thu tế”, hương chức của làng về chùa cung thỉnh sư Trụ trì và quý thầy tới đình làng tụng kinh “Cầu quốc thái dân an” và dự tế lễ. Gặp năm hạn hán, sợ ruộng đồng thất bát, dân làng có nguyện vọng cầu mưa thì nhà chùa thuận ý làm lễ tắm Phật, cầu “Phong điều vũ thuận”. Gặp năm thiên tai bão lụt, hạn hán mất mùa, thiếu đói, chùa kêu gọi lạc quyên, cứu trợ người bị nạn; lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy hằng năm, chùa  có lễ chẩn bần. Những năm chiến tranh, ở đâu cũng sợ bom rơi đạn lạc, người ta kéo nhau về chùa ẩn núp. Nhưng chiến tranh mỗi ngày mỗi ác liệt, bom đạn và lửa chiến tranh không chừa đâu. Một ngày kia, làng cháy, nhà dân, nhà Phật tử cháy, chùa cũng không còn, người dân phải chạy tứ tản. Nhưng tới khi ngóng chừng bom đạn đã dứt, người ta lại lục tục trở về; ngồi trên thềm đổ nát, nhiều người cảm thấy nỗi xót xa, hụt hẩng, trống trải, vì nỗi không nhà, không chùa, vắng bóng quý thầy, vắng bóng ngôi chùa làng ngày nào vô cùng thân thuộc… Người ta còn nhớ, hồi 9 năm kháng chiến, nhà chùa phải “tăng cường” thực hiện “Dĩ nông vi thiền” để có lương thực “tự cấp tự túc”.
          Hồi xưa, phần lớn các chùa là những mái tranh vách đất; ta thường gặp những ngôi chùa nóc cao chót vót, đứng trong sân chùa nhìn lên phải trật ót mới thấy được nóc chùa. Các bà, các cô gái gói bánh ít lá gai bằng lá chuối, bẻ cái lá cho ra cái chóp cao, kiểu gói bánh đó người quê tôi gọi là gói bánh ít nóc chùa, đẹp hơn các kiểu khác. Những người thành thị có dịp đi về đồng quê, thường ghé lại thăm một cảnh chùa để tìm ở đó sự thanh tĩnh. Từ dáng vẻ bề ngoài kiến trúc của chùa đến sự thờ phượng bên trong với những pho tượng Phật, tượng La Hán, hoành phi liễn đối đều có  sức hấp dẫn du khách, nhất là những người có tấm lòng mộ đạo và hoài niệm những gì của thời xưa. Rồi nữa, một bữa cơm chay thanh đạm, một bữa trà mạn sen hương ngát do sư trụ trì mời, cũng đủ làm cho khách khó quên.

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Nắng mới


Trong cái giá lạnh của Mùa Đông, vạn vật thu mình lại và diễn ra một cảnh Đông tàn. Người ta bảo, đó là vạn vật ngủ Đông. Nhưng rồi theo lẽ tuần hoàn, Đông qua cho mùa Xuân lại, đem theo về nắng mới.

Vạn vật đến Xuân thì bừng thức: Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, muông chim tưng bừng ca hót …Hòa cùng niềm vui đó, con người hớn hở đón chào chúa Xuân và nắng mới. Nắng mới đẹp lắm, người ta có nhiều chữ nghĩa để gọi tên nắng mới: Ánh thiều quang (Ngày Xuân con én đưa thoi / Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi (Thơ Kiều – Nguyễn Du), ánh dương quang, ánh hồng, nắng tươi, nắng vàng, nắng rực rỡ... Cái tên gọi nắng Xuân (vẫn đồng nghĩa với nắng mới) để đi cùng với gió Xuân (Xuân phong, Đông phong) sông Xuân (Xuân giang) núi Xuân (Xuân sơn), tuổi thanh xuân, ngày Xuân, đêm Xuân… Ngôn ngữ thời nay còn gọi nắng mới là nắng thủy tinh. Cái gì bền vững, trong suốt là thủy tinh, pha lê: Tình yêu đạt đến mức bền vững, trong suốt là tình yêu pha lê, thủy tinh. Nắng mới làm cho màu sắc thắm tươi, hương ngạt ngào, cho thiếu nữ má hồng môi thắm, cho những cụ bà “Nụ cười đen nhánh sau tay áo” (thơ Lưu Trọng Lư)… Hơn thế, người ta còn cảm nhận ở nắng mới bao điều cô lẻ, nhớ nhung mà sâu xa, huyền diệu hơn: “Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng / Có ai tiễn biệt nơi xa ấy / Xui bước chân đây cũng ngại ngùng… “ (Huy Cận).

Thời tuổi thơ của mình, tôi có nhiều kỷ niệm với nắng mới, những kỷ niệm mãi vương vấn trong tôi. Đó là ngày tôi được nhìn thấy ba tôi từ bỏ chiếc áo tơi chiếu nặng nề, sũng nước mà người vẫn mang đi làm đồng ngày mưa bay gió vãi, nước lũ ngập trắng đồng. Đó là một buổi sáng, tôi được nhìn thấy má tôi đem chiếc mền bông gòn thủng nhiều lỗ (vì sự cháy leo của chậu lửa sưởi ấm đêm đêm) ra phơi trước nắng. Má bảo, trông cho nắng tốt, mền mau khô, đặng tối, lũ anh em chúng tôi có mà đắp, bởi vì vẫn còn cái rét muộn. Rồi những giàn bầu bí trong sân nở hoa vàng rực, rủ rê ong bướm bay về, dệt nên một cảnh đẹp làm lòng tôi sướng vui. Tôi nhớ hình bóng những cô gái quê ngồi bên giếng khơi, gội đầu bằng nước hương nhu dưới màu nắng ban mai ấm áp mà rực rỡ. Tôi còn nhớ như in, kỷ niệm được mặc quần áo mới, được đeo cặp sách mới đến trường trong ngày đầu năm mà ở đâu cũng tràn ngập một màu nắng vàng tươi. Vẫn chưa phai mờ cảm giác mát thịt mát da mỗi khi được tắm mát dòng sông quê lấp lánh màu nắng Xuân; cảm giác dịu êm nơi đôi bàn chân những hôm đi dạo trên những thảm cỏ xanh trải rộng dưới nắng vàng trên những ngọn đồi úp bát quanh vùng thành Hoàng Đế…Dưới nắng mới, lũ nhỏ trong cái xóm vẫn hàng ngày nghe thập thình tiếng chày giã gạo của những nhà hàng xáo, thường rủ nhau kéo ra đồng làng, bày đủ thứ trò chơi: Đào đất sét bờ sông nặn tu hú đem phơi nắng, ném thia lia trên mặt những ao sâu, hái cỏ chỉ, cỏ gà chơi đá gà, thắt bầy trâu, đàn nai, xếp hình để đọ sừng, đọ gạc…ăn thua với nhau.  Chao ôi, làm sao tôi kể hết những kỷ niệm êm đềm mà khó quên của thời thơ ấu mình được sống ở quê và được vui cùng nắng mới. Có thể nói, nắng mới và quê nhà vùng Phủ An là niềm hạnh phúc của tuổi thơ tôi. Chúng lặng lẽ để lại trong tôi một tình yêu dấu, những kỷ niệm êm đềm về một vùng quê cha đất tổ.

Từ bao năm nay, tôi sống ở thành phố. Dù cuộc kiếm sống ở đây bắt tôi phải luôn tất bật, nhưng bao giờ cũng vậy, sau buổi Đông tàn, lòng tôi vẫn rạo rực một tình cảm đón Xuân và nắng mới về. Rồi có một ngày, nắng mới lên. Từ hôm đó, hồn tôi như bao giờ cũng bỏ ngỏ để xao xuyến cùng với gió Đông, với sông Xuân, với màu nắng mới nơi tà áo nữ sinh mà tôi đã cho là đôi cánh thiên thần trong các pho truyện cổ tích. Tôi cũng xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi màu áo của các anh công nhân đang lao động hết mình vì sự nghiệp dựng xây cuộc sống mới. Tôi thực tình xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi các công viên xanh mà người ta vẫn bảo, đó là những lá phổi của thành phố đang phấn đấu trở thành một thành phố xanh – sạch – đẹp.
Tôi đã thật no nê chưa với cái thú vui cùng nắng mới nơi thành phố mà tôi đang cư trú?
Nhưng dù cho có ra sao, lòng tôi vẫn không khỏi hoài nhớ cái nắng mới của một vùng quê dưới chân thành Hoàng Đế. Nơi vùng quê đó, mùa Xuân và nắng mới bao giờ cũng huy hoàng rực rỡ, bầu trời cứ cao xanh cho muôn chim én bay về, mặt đất trải một màu xanh bao la rợn ngợp, và hồn người thì chất chứa bao niềm tươi vui, hoan hỷ. 

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011





Thơ Huỳnh Kim Bửu


Mùa Xuân và phố chiều

Mùa Xuân bắt đầu từ lá
Duyên em thắm lá trầu cay

Mùa Xuân bắt đầu từ mây
Bồng bềnh là tóc hôm bay gió chiều.

Nguyên tiêu Tân Mão – 2011

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2011



Thơ Huỳnh Kim Bửu



Hát hoa kiểng tứ bình




 
Mai
Em tôi mười sáu trăng tròn
Chợ hoa mười tám rét mòn cội mai
Vàng tươi vừa mới chạm vai
Lộc tài hớn hở đợi ngày Lập Xuân.

Lan
Thâm trầm ngỏ ý cùng ai
Lan đình đã mở hội ngày trăm hoa
Có ngàn xưa có bây giờ
Vẻ chi hồ điệp còn ngờ ý Xuân.

Cúc
Thu rồi trời cũng áo xiêm
Một nhành cúc trắng gió thềm phất phơ
Em đôi mươi rất tình cờ
Vân vân cái quả cau vừa trầu xanh.

Trúc
Gần quân tử xa tiểu nhân
Sự đời ai kẻ lưng cong kệ người
Trúc tơ duyên cũ tuyệt vời
Cành nghiêng nghiêng ánh trăng mười sáu đây.