.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Những cuốn sách và nông dân xưa
 

                                       

          Ngày xưa, cái học “thiên kinh vạn quyển”, chắc là cái học ở chốn kinh thành, ở nơi có các trường thi dành cho các sĩ tử “cướp cờ, cướp biển”, như ở quê tôi có trường thi Hương Bình Định. Chứ còn ở các vùng nông thôn thì cái học trường lớp hiếm hoi lắm, số người đi học ít mà sách cũng ít.

         Sách Tam thiên tự (tác giả Đoàn Trung Còn) dạy vỡ lòng chữ Nho. Trẻ con nông thôn học ông thầy đồ ở trong làng sách Tam thiên tự với những câu: “Thiên – trời, địa – đất, cử - cất, tồn – còn, tử - con, tôn – cháu”…Ai học hết sách thì có vốn 3000 từ làm “hành trang” buổi đầu đi học. Nhiều trẻ con học chưa hết sách đã phải nghỉ học, vì nhà nghèo, cần ở nhà giúp đỡ cha mẹ. Những trẻ này tới khi lớn lên thành anh trai làng, bác nông dân, nhờ chút học đó, mà không bị xấu hổ, vì: Không biết được chữ Nhất là một.
         Tam tự kinh (Sách ba chữ, do Vương Ứng Lân, Trung Quốc biên soạn) tập hợp những tinh hoa của Nho giáo. Ở trong các làng quê xưa, nhiều bác nông dân vừa mới rửa chân tay cho sạch bùn đất để đi ăn giỗ, nhưng đã ngồi vào cỗ là “nói chữ”, “xổ Nho”: từ “Nhân chi sơ Tánh bản thiện. Tính tương cận Tập tương viễn” (Người thuở đầu, tánh vốn lành. Tánh nhau gần, thói nhau xa.)…đến “Dưỡng bất giáo Phụ chi quá Giáo bất nghiêm Sư chi đọa”: (Sinh không dạy, lỗi ở cha. Dạy không nghiêm, lỗi tại thầy). Cảnh ngồi cỗ giỗ mà đối đáp, rượu vào lời ra thế cũng vui, thường khi làm được việc giáo hóa điều gì đó.  Từ “xổ Nho” (cũng nói xổ Nho chùm) cũng có ý thầm phục: Các vị có học đàng hoàng, có Hán rộng!
          Sách Minh tâm bảo giám (tác giả Trương Vĩnh Ký) được nông dân thích học, cứ bảo: “Đó là gương báu soi lòng”.  Nhiều câu trong sách Minh Tâm nghe nói hoài giống như ăn cơm bữa, và sớm nhập tâm, trở thành nếp sống, nếp nghĩ của mọi người: “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác Thiện hữu thiện báo Ác hữu ác báo” (Chứa lành thì gặp lành, chứa ác gặp ác. Thiện có lành báo, ác có dữ báo). Rồi những câu khuyên dạy: “Phàm nhơn bá nghệ hảo tùy thân / đổ bác môn trung mạc khứ thân / năng sử anh hùng vi hạ tiện/ giải giao phú quý tác cơ bần”…(Hễ biết nghề nào cũng ấm thân. Mấy nơi cờ bạc chẳng nên gần.  Anh hùng mắc phải ra hèn hạ. Phú quý lâm rồi lại khó khăn)… Rất phổ cập, đến thành bài học, thành “câu hát” mùi mẫn ở trong các làng quê.
           Trên là những sách “giáo khoa” nông dân ít nhiều có thời trẻ thơ được học với ông thầy đồ hoặc với cha, anh ở nhà.
          Tứ thư, Ngũ kinh là những sách dành cho nho sĩ. Những nho sinh, sĩ tử có mộng khoa danh thì cố “ôn nhuần kinh sử”. Còn đa số nông dân, nhờ cuộc sống làng quê có sự chung đụng giữa nho sĩ và nông dân mà kiến thức được chia sẻ cho nhau. Nông dân vẫn “nói chữ”: “Quân quân thần thần phụ phụ tử tử” (Vua -  tôi, cha – con, ai có bổn phận nấy - Luận ngữ ) mỗi khi muốn nhắc nhở cái bổn phận phải lo cho tròn, cái quan hệ, kỷ cương phải giữ. Ngoại tôi là nông dân, ông đã chọn một câu hay trong Kinh Thi: “Quan Quan Thư Cưu Tại Hà Chi Châu Yểu Điệu Thục Nữ Quân Tử Hảo Cầu” (Chim thư cưu kêu quan quan… trên cồn sông Hoàng Hà. Gặp người gái đẹp, quân tử phải lòng) mà đặt tên cho các người con của Ngoại. Ngoại có 16 người con trai gái, má tôi thứ 8 xinh đẹp, trúng tên Châu: Nguyễn Thị Minh Châu, cũng đẹp.

          Sau này, hết thời chữ Hán lâu đến ngàn năm bước sang thời chữ Quốc ngữ mới ra đời.
         Đại Nam quốc sử diễn ca (của Phạm Đình Toái) được dạy ở trường Tiểu học. Vẫn thường vang vọng trong xóm thôn tiếng ôn tập bài học của các học trò trường Huyện. Khi thì: “Hùng vương đô ở Châu Phong / Ấy nơi Bạch Hạc hợp dòng Thao giang / Đặt tên là nước Văn Lang / Chia mười lăm bộ bản chương cũng liền…”.  Khi thì: “Bà Trưng quê ở Châu Phong / Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên / Chị em nặng một lời nguyền…”.  
         Đến sách Quốc văn giáo khoa thư (QVGKT – nhóm ông Trần Trọng Kim biên soạn), được những “nông dân” ấu thơ học với cả lòng hứng thú. Bài nào học cũng mau thuộc, mau nhớ. Bài Rắn đầu biếng học (của Lê Quý Đôn): “Chẳng phải liu điu vẫn giống nhà! / Rắn đầu biếng học quyết không tha / Thẹn đèn hổ lửa đau lòng mẹ / Nay thét, mai gầm rát cổ cha…” là một trong những bài trong sách được học một lần là nhớ cả đời. Người ta nói, có “tình nghĩa giáo khoa thư” để chỉ cho tình bạn, tình huynh đệ giữa những người cùng học chung cuốn sách đó. Chẳng bao lâu, những chú bé học trò ngày trước học QVGKT trở thành các bác nông dân thuộc sử nước nhà, biết cảm thụ, biết thế nào là một bài văn hay.
        Từ nhỏ tới lớn, ta vẫn nghe ông cha cứ dặn bảo “Học làm người”, bài học cần học cả đời. Và ai cũng biết cái phẩm chất bao trùm của làm người là hiếu thảo, cho nên những nhà chứa sách (tích thư) đều có cuốn Nhị thập tứ hiếu (tác giả Lý Văn Phức). Bác nông dân nhân khi nhàn rỗi, vẫn ngồi đó “giảng sách” Nhị thập tứ hiếu cho con cháu nghe mà cũng là dịp cho chính mình ôn lại: “Người tai mắt đứng trong trời đất / Ai là không cha mẹ sinh thành / Gương treo, đất nghĩa trời kinh / Ở sao cho xứng chút tình làm con…”…vẫn kể rành rẽ 24 gương hiếu cảm động trời đất được ghi trong sách cũng như được truyền khẩu trong dân gian. Trong xóm thôn, những nhân vật Tử Lộ, Mẫn Tử Khiên… hình như ai cũng biết.
         Bên cạnh cuốn Nhị thập tứ hiếu, trên giá sách của các gia đình, còn có quyển Gia huấn ca. Từ khi quan đại thần Nguyễn Trãi viết Gia huấn ca, trong cả nước (Đại Việt hồi đó, nước Việt sau này), thì nhà nhà đọc, nhà nhà dạy Gia huấn ca. Người ta hứng hát, ngồi không với nhau hát: “Đặt quyển sách vắt tay nằm nghĩ / Hễ làm người dạy kỹ thì nên”. Người nông dân vẫn bảo “Dạy con từ thuở còn thơ…”. Thực là ông cha ta đã đề cao vai trò quan trọng bậc nhất của giáo dục.

         Tuy không thiên kinh vạn quyển như đã nói, nhưng bằng mấy cuốn sách đó, kết hợp với kinh nghiệm bản thân, nông dân đã nâng cao kiến thức, học được bao điều lợi ích. Không ai nghi ngờ chuyện nông dân thuộc Sử Việt, trong tâm thức nông dân có niềm tự hào lịch sử nước nhà có Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung…Nông dân không cục mịch như người ta tưởng mà trái lại họ có một tâm hồn đa cảm, luôn tìm đến với văn chương – nghệ thuật. Người ta vẫn ham thích đọc tiểu thuyết chương hồi (Trung Quốc), văn biền ngẫu, truyện cười dân gian… bằng cách ai biết chữ thì đọc, ai không biết đọc biết viết thì nhờ con cháu đọc cho nghe. Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn viết về phong tục, chuyện tình đôi lứa không thành; thơ Tiền chiến viết về đồng quê của Nguyễn Bính, Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ… vẫn đem lại sự yêu thích cho các nông dân biết đọc biết viết. Nông dân ta chẳng những đọc sách, “giảng sách”, “nghe sách” mà còn là người sáng tác nữa. Ca dao, dân ca, hò vè …là sáng tác đầy hứng thú từ những tâm hồn yêu thương, trong trẻo của nông dân.

         Bây giờ xin hỏi, nhờ đâu mà những cuốn sách xưa phổ cập tới những người nông dân sống trong các làng quê hẻo lánh như vậy? Chắc là trong các nguyên nhân được nêu ra, có nguyên nhân tôi cho không thể thiếu: Đó là sách hay, sách đem lại cho người ta cái thú đọc sách.

        Ngày nay, có ai về nông thôn (giữa thời buổi nhiều sách báo, có tủ sách xã thôn), mà tìm một nông dân thuộc năm ba câu Kiều, vài đoạn Lục Vân Tiên, biết chuyện Nỏ thần An Dương vương, Thánh Dóng…để cùng nhau hào hứng “trà dư tửu hậu” thì thật khó quá. Cái “thú đọc sách” (Trước đèn xem truyện Tây Minh – Lục Vân Tiên), cái từ “nghe sách”, “giảng sách”, rất quen hồi xưa, nay cũng không còn trông thấy, nghe thấy nữa.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu

Ngõ phong lan
Mười năm người về, trồng phong lan
Ngõ thành ngõ Hoa Lan
Xóm thành xóm Hoa Lan
Khách qua đường dừng một phút:
“Hương lan… Ôi nhẹ nhàng! ”.

Thơ Huỳnh Kim Bửu

Những cô gái trên xe đạp đôi
Trên đại lộ hoa và khách sạn Thùy Vân
Đứng ngắm mặt trời mọc lên từ biển
Ông Mặt trời cũng vừa tắm biển
Nên trông thật khoan khoái thật vui.

Đại lộ hoa và khách sạn Thùy Vân khi chiều xuống
Những cô gái trên xe đạp đôi thong thả cùng chiều…
Bác xe thồ gặp đồng hương quên ngày muộn
Hỏi đủ chuyện quê, chuyện sông Lại lở, bồi...

Mỗi ngày ta gặp nhiều lắm Vũng Tàu:
Đêm vẫn sáng trên trời và liên hồi gió hú
Ngày ra phố đi dọc những bờ tường rào gạch cũ
Không nói gì với ta những chùm bông giấy đủ màu.  

Thành phố thật nhiều nụ cười khi gặp nhau
Mai dẫu xa, ta còn nhớ thật nhiều, thật lâu
Những xe đạp đôi chở chiều và những dáng nhỏ
Thong thả... Về đâu cũng thật Vũng Tàu.

(Viết ở Nhà sáng tác Vũng Tàu, một ngày đầu tháng 4 / 2011).


thica.net

Mạng thi ca Việt Nam

Thơ Mõ sừng

Mạng thi ca Việt Nam

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

chuột - người – chuột

          
          Chuột - người – chuột






          
          Chuột sinh ra đời liền bị nhiều kẻ thù: Mèo vồ, chó chụp, sa bẩy, trúng thuốc độc… Ngành Thú y bào chế thuốc chữa bệnh, thuốc bổ cho bò, heo, gà, vịt… Nhưng lại có lọ thuốc diệt chuột (xếp cùng một góc với lọ thuốc trừ sâu…). Chẳng biết, bởi duyên nợ gì mà chuyện chuột với người nhiều lắm? Nhất là với quan tham, cho nên, bài này xin tản mạn một chút về chuột.  

         Chuột là loài đục khoét, phá hại. Đục khoét, phá hại là chuyện thường ngày của chuột, khiến người nhiều khi không chịu nổi. Đó là chưa nói, nếu người không giỏi dự phòng, nó còn truyền bệnh dịch hạch rất đáng sợ nữa.
         Nhưng mà chuột cũng có lợi ích cho người ở mặt nào đó chứ?
        Y tế thế giới đã làm hàng loạt các xét nghiệm trên chuột (không có con vật nào thay được chuột mà tốt hơn) để tìm ra thuốc chữa bệnh, thường là những bệnh nan y của người. Nhờ đó, ngành y tế thế giới đã chữa khỏi, cứu sống hàng triệu con người. Nuôi chuột bạch cũng là cái thú chơi của không ít người. Nhiều thực khách đã dám chắc rằng, ăn thịt chuột xào lăn, quay, nướng vừa thơm vừa ngon, chẳng hề thua kém thịt gà.

        Đời “bất hạnh” của chuột sao giống với thân phận đáng thương của dân đen, một tầng lớp người dưới đáy xã hội.
        Nhà văn Mỹ, John Steinback, viết tiểu thuyết Của chuột và người, rất được nổi tiếng. Trong tiểu thuyết, chuột trở thành con vật gần như bạn của nhân dân lao động, những người nghèo khổ, cùng cực. Ai xem tranh Đông Hồ - Đám cưới chuột, cũng dễ nhận thấy một tố cáo rằng dân đen (chuột) cần làm gì (dẫu là một đám cưới thuộc chuyện bách niên), nếu không đem lễ vật (chim, cá…) đút lót cho quan trên (mèo) là không được phép, không yên đâu. Thường thì chuột đói, trốn tránh trong hang sâu, xó tối, bữa nào được ăn no, là nhờ gặp may (sa bồ nếp hoặc rớt chĩnh gạo). Bài học chuột gặp may đã khiến cho “người quan sát” Lý Tư biết chọn con đường cho sự nghiệp của mình: Bỏ sáu nước, đi theo nước Tần giàu mạnh nhất. Nhờ đó, ông lấy tài trí và khôn ngoan của mình giúp Tần, lập được công, làm tới chức Thừa tướng, hưởng vinh hoa, phú quý không ai bằng, và cũng để cho đời cái danh lạ lùng:“Chuột Lý Tư” (1).   
         Ở trong các làng quê, có những lúc vì chuột phá hại mùa màng ghê lắm, làng xã phải hô hào diệt chuột tận hang sâu, treo giải thưởng cho ai diệt được nhiều chuột. Nhưng ở một thời mà nạn tham nhũng trở thành “quốc nạn”, người ta cũng khéo mượn chuyện diệt chuột để hô hào diệt bọn quan tham đang làm cho nước yếu, dân khổ. Cụ Nguyễn Đình Chiểu (thế kỷ XIX) viết “Thảo thử hịch” (bài Hịch dịch chuột) để hô hào diệt chuột: “Chớ để con nào sơ lậu, phải ra tay lấp lỗ tam bành. Đừng cho chúng nó sẩy ra, phải hết sức trừ đồ lục tặc”. Có như thế mới được cảnh: “Bốn phương đều ngợi cảnh thăng bình. Thiên hạ cùng vui câu án đỗ” Nhưng cũng nên được hiểu, vì một nỗi bức xúc, Cụ có ý mượn đó để hô hào trừ diệt bọn quan tham lại nhũng trong bộ máy cai trị của Tây và Nam triều.
         Tuy không hô hào diệt chuột, diệt trừ quan tham mạnh mẽ, quyết liệt như Nguyễn Đình Chiểu (đã từng ra tuyên ngôn Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà), dân gian vẫn thích kiếm chuyện chuột để đùa dai với giới quan lại chuyên nhũng nhiễu dân. Chuyện cũ kể rằng:
          Bữa nọ, quan ở công đường, vợ quan ở nhà và đã nhận một món quà hối lộ là một con chuột đúc bằng vàng, to bằng chuột thật, có người đem tới biếu. Quan về, vợ khoe việc nhận hối lộ, và cũng nói thiện chí của người đưa hối lộ, muốn tặng quà cho ấn tượng: Món quà biểu tượng tuổi Tý của quan. Quan mừng, nhưng liền đó nghĩ lại mà bực tức, trách vợ, sao không nói với người ta rằng ông tuổi Sửu, cho được quà cực to là con Trâu vàng. Chao ôi, lòng tham làm cho quan mê muội!
         Ngày kia, bầy chuột họp nhau để cùng bàn cách trừ mối họa là chú mèo hiểm ác, đặng bảo toàn nòi giống chuột. Cuộc họp nhiều ý kiến, nhưng có một ý kiến được mọi “người” khen hay: Phải đeo một cái lục lạc vào cổ lão mèo để mèo đi tới đâu cũng có tiếng lục lạc rung leng …keng…, báo động cho chuột chạy trốn. Nhưng ai kìa “cảm tử”, đi làm việc nguy hiểm, đem nạp mình vào miệng mèo hung ác? Chủ trì hỏi mãi mà cuộc họp cứ lặng thinh, không chuột nào dám đứng lên tình nguyện. Đó, cái hung (mà cũng là cái tội) của quan là đã làm cho lương dân phải khiếp sợ, phải chấp nhận hèn. Cũng từ đó mà có thành ngữ: “Hội đồng chuột”.
         Người ta có chuyện Nửa dơi nửa chuột để cảnh cáo người dân lương thiện đừng dễ bị mắc lừa bởi miệng lưỡi của hạng quan thiếu đức thương dân. Khi gặp cảnh thuận thì chúng làm chuột để trổ tài ma mãnh, tham gian, khi gặp cảnh nghịch thì làm dơi để thoát thân, biến hóa khôn lường. Người ta gọi chúng là bọn giảo hoạt, nửa dơi nửa chuột, bọn chim (dơi) - chuột, phải thông minh phát hiện ra chúng.
         Không biết bằng quan sát cách nào mà tác giả Hồ Huyền Quy đã viết nên áng cổ văn Truyện “Trinh thử” (Trinh thử: con chuột trinh tiết) để tán dương lòng trinh tiết (Trinh thử: con chuột trinh tiết) và chỉ trích thói dâm tà.           
         Không biết có bao nhiêu câu ca dao cảm hứng từ bạn chuột vẫn cất lên trong các xóm thôn? Trẻ con vẫn hát: “Con mèo, con chuột có lông / Cây tre có mắt, nồi đồng có quai”, chuột trong lời bài hát khá thân quen và an bình bên cạnh những con vật, đồ vật khác, chớ không có gì là bị hô hào truy đuổi, diệt trừ mối họa. Ông bà già vẫn thường kể: “Con mèo trèo lên cây cau / Hỏi thăm: Chú chuột đi đâu vắng nhà? / Chú chuột đi chợ đàng xa/ Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo… ”, như đã kể truyện thơ Lục Vân Tiên để mà cười cái hiểm sâu của mèo, thương cái trốn chui trốn nhủi mà vẫn không yên của chuột. Đó là một lẽ. Nhưng phải chăng còn một lẽ khác, kể để hóa giải hận thù giữa những người thù địch, không đội trời chung với nhau? Ai yêu ca dao lại không thuộc lòng câu này: “Chuột kêu chút chít trong rương / Anh đi cho khéo đụng giường, mẹ hay” để có thêm một mối thương cảm.

         Có ai giải thích giùm, tại sao các cô gái thường sợ chuột? Theo tôi, người đầu tiên gọi chuột “bằng ông” (Ông Tý) chắc là một người phụ nữ, vì chuột hay cắn phá quần áo thời trang của chị, quần áo của chồng con chị. Tôi nhớ má tôi, khi bà còn sống, tối nào đang làm hàng (để sáng ngày quảy ra chợ bán) mà nghe chuột xạ reo là bà mừng và bảo: “Sáng mai nhất định má mua may bán đắt, và sẽ mua về cho các con nhiều quà, vì đã có tiếng chuột xạ reo, báo trước tin vui”.
         Có ai xếp giùm tôi, con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin này thuộc dòng họ chuột nào: Chuột xạ hay chuột nhắt, chuột xù hay chuột cống, chuột nhà hay chuột đồng? Dù được xếp theo dòng họ chuột nào, con chuột vi tính của thời công nghệ thông tin ngày nay là con chuột thân thương của con người trên khắp thế giới: nó mang lại thông tin cho con người, xích thế giới lại gần nhau. Hàng trăm triệu con người trên khắp thế giới vẫn hằng ngày lăn con chuột mà làm việc, làm công trình, sáng tác… làm niềm say mê, niềm vui, hạnh phúc cho mình.
      
 
(1) Lý Tư thời trẻ tuổi, nhờ hai lần gặp chuột (một lần gặp chuột ăn vụng ở xó nhà mình, trong cảnh vừa ăn vừa sợ bị vồ, đập mất mạng; lần khác thấy chuột ung dung ăn trong kho thóc to, không hề tỏ ra sợ gì hết) mà đi tới quyết định bỏ sáu nước để đi theo nước Tần giàu mạnh nhất, đặng làm con “chuột sa bồ nếp”.

      
  

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2011




Thơ Huỳnh Kim Bửu




Ký ức



Ký ức chạm vào quê hương
Cánh cò bay la bay lả
Tuổi thơ những ngày óng ả:
Mẹ, cha… và bậc thềm nhà.

Ký ức chạm vào trang vở
Mực tím, ngòi bút lá tre
Thả giữa sân trường tiếng vụ
Ù… u… như tiếng của trưa.

Ký ức chạm vào tình cũ
Giá đừng úa thếp trầu xanh
Dẫu mấy trăng tròn, trăng khuyết
Cứ như chưa lặn nguyệt Rằm.

Ký ức chạm vào ngày tháng
Rêu phong cho đến câu hò
Mỗi ngày một lần hóa thạch
Những liễu xanh soi mặt hồ…

Nếu như không còn ký ức
Quả thị sẽ rớt về đâu
Trầu cau ai trồng mà mọc
“Ngày xưa” Nội gởi chỗ nào?

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2011

Bút ký của Huỳnh Kim Bửu



“Ăn chè… rồi lại ăn xôi”


         “Mặn, nhạt, chua, cay, lẫn ngọt, bùi” (Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm): Vị giác đó mà tình đời cũng đó. Món ngọt phong phú lắm: Bánh thuẫn, bánh in, cốm nếp, cốm ngô… Mà phải chăng, trong đó chè là món thứ nhất?

       Chè nào chẳng nấu với đường và thường không thiếu các “gia vị” vẫn dành cho nồi chè: Dầu chuối, gừng, va – ni, lá dứa…
      Chè tổng hợp là món chè thường gặp nhất ở nông thôn, tức nông dân thường ăn nhất. Chè chế biến từ đậu đen, nếp, đậu phụng (rang, nguyên hột). Tại sao nông dân thích ăn chè tổng hợp? – Vì trong các gia đình nông dân vẫn sẵn có những thổ sản này. Chè tổng hợp nấu đặc. Người nông dân thích ăn đặc, cho chặt bụng mà cầm cày, cuốc, nên gặp món chè này thì phải lòng không gì hơn. Chén chè tổng hợp nóng, bốc hơi, tỏa đủ hương vị: Thơm - nếp, bùi - đậu đỗ, vị ngọt của đường tới. Người sành ăn sẽ ăn nóng, bẻ bánh tráng nướng giòn giòn, thơm thơm xúc ăn, cho thêm hương vị. Chén chè này, ăn nguội sẽ mất hết hương vị, bỏ cục đá lạnh (của thời nay) vào sẽ rất nhạt nhẽo; chế biến chè phải dùng đường đen (đường muổng hay đường tán) mới có vị ngọt đậm đà tính dân dã, nó không hợp với đường cát trắng, dành cho bữa chè khác của nhà khá giả.
      Chè thập cẩm thời nay là một sự “phát triển” của chè tổng hợp xưa, có thêm nhiều loại đậu đỗ để cho thành “thập cẩm”. Có thấy những quán chè thập cẩm dọn ra đến trên dưới mười cái xoang trắng tinh đựng chè, xếp thành hình vòng cung, giống như một dàn trống võ mà bà bán chè với những thao tác uyển chuyển nhanh nhẹn cũng giống như người nghệ sĩ biểu diễn dàn trống đó.  
        Chè đậu đen, nấu loãng, ăn với đá lạnh, có giá trị giải khát lắm.
        Chè đậu xanh, chế biến từ nếp, đậu xanh, đường cát vàng mỡ gà, thường gặp ở các nhà trung lưu trở lên. Chè này ăn với đá lạnh vừa mát miệng vừa đã khát.
         Chè đậu xanh đánh được chế biến bằng bột đậu xanh mịn, đường cát vàng hay đường cát trắng, đánh nhuyễn. Để nguội, ly chè đặc lại thành bánh, có thể cầm trên tay ăn.
        Chè đậu váng, nấu bằng đậu váng nguyên hột, cho bột mì nhứt và đường cát vào. Chè đựng trong ly, người ta thích ăn với đá lạnh.
       Chè đậu ngự, ngọt thanh, cắn hột đậu ngự, nghe thơm, bùi. Đậu ngự còn nấu canh với thịt nạc, xào với bún Tàu - thịt nạc đều ngon đặc biệt. Do vậy, nó thường để dâng vua, bởi thế mới đặt tên là đậu ngự.
       Chè hạt sen thường nấu dâng cúng Phật. Hạt sen còn làm mứt, ăn mứt hạt sen cắn túc tắc, rỉ rả trong Tết tư, đám tiệc, cũng vui, chẳng khác gì cắn hạt dưa.
      Chè chuối nướng - nước dừa - đậu phụng rang giã nhỏ là món chè bình dân, vẫn “kết bạn tâm giao” với giới lao động và học sinh ở các thành phố.
       Chè nếp nấu đặc, đựng trong chén, thường gặp trong những bữa cúng Các bác ngày sóc vọng hàng tháng, bên cạnh các đĩa xôi nếp - đậu xanh, đĩa củ lang luộc chín và những chén cháo trắng.
        Chè bắp, chế biến từ bắp non. Nấu sênh sếch hạt bắp non bào nhỏ với đường cát sẽ cho ly chè bắp ngọt thanh, ăn lợi tiểu, chẳng khác gì uống thuốc bắc.
       Chè trôi nước, chế biến bằng nguyên liệu bột mì vo viên, có nhân. Gọi là chén chè trôi nước, bởi vì những viên bột mì hình thoi bọc nhân là hạt đậu phụng rang, to bằng hạt mít, nổi trôi trong chén chè loãng. Chè ỉ khác với chè trôi nước ở viên bột mì. Viên bột mì, chính là viên chè. Nó to và tròn trĩnh như quả chanh, mang nhân đậu đỗ hay nhân dừa bào mảnh thành sợi, hương thơm, vị béo mà ngọt lịm.              Chè ỉ múc cả nước lẫn cái vào chén hay ly thủy tinh, sẽ bắt mắt, kích thích vị giác, vì cái viên chè to tướng nằm choán hết chỗ của ly chè.
        Bánh canh ngọt là món gần gũi, bà con dòng họ với chè. Món này chế biến bằng bột gạo, sú nước vào cho ướt đều, xe thành cọng to, dài bằng chiếc đũa con. Đoạn cầm trên tay, đưa tay ra ngang tầm nồi nước đang bắc trên bếp lửa, dùng kéo cắt cọng bột thành từng đoạn dài 5 – 10 phân, cho rơi thẳng vào nồi nước, kế tiếp cho đường vàng vào. Nồi bánh canh vẫn ở trên bếp, cho tới khi nào nghe mùi thơm của bột gạo chín, của đường tới, thì hạ xuống. Bánh canh dùng nhiều gia vị gừng (như chè đậu đen, chưa có bột va – ni, dầu chuối như ngày nay). Chế biến bánh canh xong, múc ra chén, bát vại, sắp vào mâm, bà nội trợ mời cả nhà ăn. Ăn uống tùy sức, ai hảo ngọt thì ăn bát vại. Đứa con nít nào hư bị người lớn đánh đòn, nứt lằn ngang, dọc ở mông đít, thì gọi là đã bị “cho ăn …bánh canh”!
        Chè bánh tráng là “sáng chế” của mấy chị em nhà nọ mỗi khi cha mẹ vắng nhà. Cầm dao, gọt đường tán vào bát đã có sẵn bánh tráng bẻ vụn, rồi chế nước sôi vào. Nhà 7 chị em, chế 7 đứa 7 tô, tức thì mỗi đứa có một tô chè bánh tráng, ăn cũng ngon như thường.
       Chè đông sương chế biến từ rau câu xay thành bột, đóng gói, bán ngoài chợ. Cho bột rau câu vào xoong nước đang bắc trên bếp hồng, nấu sôi, cho gia vị vào, rồi tắt lửa, hạ xuống, múc ra chén. Đợi nguội, nếu nấu loãng thì cho chè đông sương (đông mềm) nếu nấu đặc thì cho bánh đông sương (đông cứng). Ăn chè, bánh đông sương, nhớ xu xoa cũng chế biến từ rau câu, chỉ khác ăn xu xoa, nghe rõ mùi rau câu hơn, khiến cho người dễ mủi lòng nẩy sinh tình cảm nhớ biển …mặn. 
Thường thì chè đặc đựng trong chén, bát; chè loãng chứa trong ly. Nhưng cũng còn tùy thuộc vào những gì có sẵn trong sóng chén của bà nội trợ nữa. Các bà nhà khá giả quản lý sóng chén, đã chia tô, chén, đĩa thành mấy loại: Chén ăn cơm, chén ăn chè (còn gọi tắt là chén chè) chén nước mắm, đĩa trái đào, đĩa con vịt bầu, chén da lươn…Chén chè là chén mỏng (thuộc nhóm đồ mỏng, đồ Tàu) don don, đứng trái, đáy sâu, đóng triện Nội phủ dưới khu chén, khác với chén ăn cơm lớn hơn, miệng rộng; chén nước mắm nhỏ, đáy nông. Như vậy, có chén chuyên dụng: Chén chè.
  
         Khi nào thì người ta ăn chè?
         Người ta vẫn thường ăn chè khi trong nhà đã có sẵn các nông thổ sản có liên quan tới nồi chè, xoong chè.
        Trưa, nhất là những trưa hè nóng bức, bà nội trợ chế biến sẵn từ hồi nào, dọn lên bữa chè đậu xanh hoặc đậu đen nấu loãng đãi cả nhà ăn. Ăn với đá lạnh. Ăn xong, được cái cảm giác mát rượi chạy khắp người, ông chồng hứng quá khen vợ mình đảm đang, lũ con bắt chước bố khen mẹ mình giỏi giang hết ý. Khách tới nhà chơi, được chủ nhà mừng rỡ, cầm chân mời ăn cơm trưa, ngủ trưa, xế thức dậy còn cho ăn chè (thói thường là chè tổng hợp), rồi mới được thả cho về. Người lớn, trẻ con hảo ngọt, trông cho luôn có dịp ăn chè và chắc đã có không ít lần thốt lên “tiếng lòng”: “Cu kêu ba tiếng cu kêu / Cho mau tới Tết dựng nêu ăn chè…” (Ca dao). Trong các làng ở quê tôi xưa, rải rác có quán chè, có những gánh chè bán dạo xóm, dạo đồng đang mùa gặt hái, đông người. Ở Quy Nhơn hồi cách đây vài mươi năm, đường Phan Bội Châu, đường Trần Phú… nối đuôi nhau các tiệm chè, bởi thế, được nhiều người gọi là mấy phố Chè, cho nó văn nghệ. Cũng thời đó, ai thích món chè chuối nướng, cứ chờ tối đến, đạp xe thẳng tới đường Mai Xuân Thưởng (đoạn gần Nhà hàng Trầu Cau bây giờ), lên Cầu Đôi…Ở các nơi đó, quán chè chuối nướng la liệt trên hè phố mà quán nào cũng đang đông vui những người hảo ngọt tụ lại. Còn các gánh chè bán dạo phố phường thì sớm trưa chiều tối, gánh nọ đụng đầu gánh kia. 

       Gu của người ta, ăn chè thường kèm với ăn xôi, chè – xôi vẫn đi đôi với nhau: “…Ăn chè rồi lại ăn xôi / Còn ba đòn bánh tét để dành hạ nêu” (Ca dao).
       Xôi được chế biến từ các nguyên liệu: Nếp, đậu xanh, đậu đen, đậu phụng, đậu ngự, gất, lòng gà, lòng lợn, trứng cút …Nói chung, nguyên liệu chế biến xôi, giống như chè, chỉ khác: Xôi không đường, nấu bằng chõ (1) để cho xôi vò hoặc bằng nồi để được cơm nếp. Người Bình Định làm mâm cỗ giỗ kỵ, tiệc tùng thường mãn tiệc bằng mời thực khách ăn món xôi: “Ăn xôi rồi việc” (Tục ngữ) cũng giống như xem tuồng tích, đòi phải có “hậu”. Ở Quy Nhơn có mấy tiệm xôi thơm bán buổi sáng ở các đường Nguyễn Thái Học, Trường Chinh… thường đông khách.

         Ngày nay, cái thú ăn chè đã giảm đi nhiều. Ở Quy Nhơn, những phố chè ngày trước nay chuyển sang bán buôn mặt hàng khác. Thậm chí, gánh chè rong phố, cũng đã ít gặp! Phải chăng, người ta ăn kiêng món đường ngọt, như kiêng thịt mỡ, da gà? Nhớ quá, những bữa chè với bạn bè Văn nghệ ở đường Phan Bội Châu (gần trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh) tình bạn cứ thêm ngọt ngào!
(1) Dụng cụ nhà bếp bằng đất nung, giống cái vò nước nhưng đáy đục nhiều lỗ, thả lọt hòn bi ve. Khi nấu xôi, đặt chõ lên miệng nồi, trát đất kín chỗ chõ tiếp giáp với miệng nồi, rồi cho nếp nguyên liệu và các thứ thịt thà đậu đỗ vào chõ (Có lót lá ở đáy chõ), đốt bếp cho đến khi nếp trong chõ chín và thấm tháp thành xôi vò.



Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2011

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu

Mục đồng

     Làm nghiệp nông, bên cạnh anh thợ cày, chị thợ cấy…còn có chú bé mục đồng.

       Mục đồng là ai nhỉ? – Trong gia đình nông dân, thường có sự phân công: “Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa”, thì đứa con trai lên mười cũng thường được giao cho “nhiệm vụ” cầm roi chận bò, như một cách giúp đỡ cha mẹ. Chú bé chăn bò được gọi là mục đồng. Nơi các làng quê, nhiều nhà nghèo phải đem đứa con trai đang tuổi ăn tuổi lớn gởi cho nhà giàu nuôi làm trẻ chăn trâu thuê. Đây là “lực lượng” đông đảo trong giới mục đồng.

        Công việc hằng ngày của mục đồng là chăn dắt đàn trâu bò (nhưng cũng có khi là đàn ngựa, dê…). Sáng ngày, mục đồng dậy sớm lùa trâu ra đồng, cho trâu cùng với ông thợ cày bắt đầu một ngày cày bừa, làm cái việc nặng nhọc nhất của nhà nông. Việc cày bừa mà gặp phải khi “nông vụ tấn thời” thì phải từ sáng sớm đến chiều tối. Trong khi trâu sức cày bừa, thì mục đồng phải vừa chăn dắt mẹ con trâu cái vừa cắt cỏ non “nhận” đầy giỏ bội đặng kịp chiều về cho trâu ăn. Trâu là loài tham ăn, cho nên mục đồng phải chận, đừng cho trâu ăn cây lúa non ngoài đồng; trâu là loài hăng máu, không để cho trâu báng lộn mà mất sức; trâu là loài mạnh, không để cho trâu theo cái nhiều mà mất điều độ, xuống sức… Hằng ngày, chăn dắt trâu mà để trâu đói, bị muỗi mòng đốt, đỉa cắn, không sạch sẽ…là lỗi của mục đồng. Gặp thời buổi nhiễu nhương, bọn kẻ gian lừa bò trâu trộm đông như rươi, mục đồng còn phải ngày đêm canh giữ, không để trâu bị lừa trộm. Vì mất trâu là mất cái đầu cơ nghiệp của nông dân. Mục đồng phải làm lụng tối ngày, vất vả, khổ cực lắm. Trẻ chăn trâu thuê đâu chỉ chăn trâu mà còn phải làm bao việc “bế em, xay lúa” cho nhà chủ nữa.

        Xưa nay, người ta vẫn hay nói “cái thú chăn trâu”. Nói để thi vị hóa nghề chăn trâu khổ cực cũng có, nhưng để mô tả một sự thực cũng có. Thú chăn trâu, trước hết phải kể thú cưỡi lưng trâu, vuốt đuôi trâu, sờ sừng trâu, đội nón mê như lọng che, ngồi mình trâu thổi sáo…Ngồi mình trâu không thú sao có Lão Tử cuối đời cưỡi trâu mà biến mất, không còn để lại tung tích gì hết; Đinh Bộ Lĩnh cưỡi trâu tập đánh trận; Nguyễn Công Trứ “nhạc ngựa bò vàng đeo ngất ngất ngưởng” đến Chế Lan Viên cũng tự xưng: “Tôi chỉ là nhà thơ cưỡi trâu” (Cờ lau Đinh Bộ Lĩnh, trong tập Thơ Chế Lan Viên, NXB Đồng Nai – 2006) ? Kế đó là đủ thú chơi khác với bạn mục đồng cùng trang lứa: Nào thú, tập họp lại 9 – 10 đứa bạn để chia 2 phe chơi cờ lau tập trận như Đinh Bộ Lĩnh hồi xưa, hát ống, hát đồng dao, đá kiện, đá cầu…Chơi một chỗ chán, kéo nhau đi, lùng sục trong các đồi gò, sông suối tìm cảm giác mới lạ: Bắt gặp chỗ này những chùm chim chim, dú dẻ, chà là chín; chỗ kia chim kêu vượn hót; nơi nọ con suối chảy cá bơi, hoa rừng nở … mà ngất ngưởng, hạnh phúc bảo với nhau rằng: “Đó là vườn địa đàng, là thế giới riêng của chúng mình”. Chăn trâu không thú, sao nhiều học trò trường làng, trường tổng vẫn tranh thủ thời gian được nghỉ học để đi chăn trâu, chơi với bạn chăn trâu? 
 
       Những câu chuyện về mục đồng được chép trong sử sách không ít. Sử sách Việt kể, Đinh Bộ Lĩnh thời trẻ đi chăn trâu và thường tổ chức cho các bạn mục đồng tập đánh trận, lấy bông lau làm cờ hiệu lệnh, sau lớn lên ông thành người tài, cầm quân dẹp loạn 12 sứ quân rồi lên ngôi vua, xưng Đinh Tiên Hoàng. Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ, khi phải rời bỏ xứ đàng ngoài để đi vào xứ đàng trong tìm minh chủ, ông đã phải vào ở chăn trâu cho một gia đình giàu có (ở phủ Hoài Nhơn - Bình Định) mà chờ thời. Sau nhờ có quan khám lý Trần Đức Hòa tiến cử mà Đào Duy Từ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên trọng dụng. Chuyện Ninh Thích chăn trâu trong sử sách Trung Quốc xưa, ai cũng biết: Ninh Thich đời Xuân Thu, xuất thân là người có tài kinh bang tế thế mà thuở hàn vi vị ngộ phải đi ở chăn trâu, sau nhờ có người tiến cử mà vào được dưới trướng Tề Hoàn Công, lập công to, làm quan tới chức Đại phu. Vào các làng quê, người ta dễ gặp những cái miếu cổ mục đồng, xây bằng đá ong và vôi vữa lở lói, tọa lạc giữa đồng không mông quạnh, tựa lưng vào ụ gò mối, bụi cây dúi già hang hốc. Có lẽ ban đầu, đó là một túp lều lá mục đồng dựng lên để trú mưa nắng lúc ở giữa đồng, rồi sau phát hiện ra điều gì linh thiêng, mới lập nên miếu thờ. Ở làng Phong Lệ thuộc xã Hòa Châu - huyện Hòa Vang – Đà Nẵng, có lễ hội mục đồng tổ chức 3 năm một lần tại đền Thần nông ở trong làng. Đây là một lễ hội nổi tiếng cả nước. Lễ hội diễn ra 3 ngày đêm, trẻ chăn trâu được tập họp lại để diễu hành, rước xách và để cho mọi người… tôn trọng.
 
       Trong thơ, họa, bài hát, thường gặp hình ảnh mục đồng, nhất là những sáng tác về đồng quê, hồn quê hương trong nỗi thương nhớ của người xa xứ…Có bài thơ thật hay: “Phong như lợi kiếm ma sơn thạch / Hàn tự tiêm phong thích thụ chi / Viễn tự chung thanh thôi khách bộ / Mục đồng xuy địch dẫn ngưu quy” (Hồ Chí Minh – Nhật ký trong tù), đã được dịch: Gió sắc tự gươm mài đá núi / Rét như dùi nhọn chích cành cây / Chùa xa chuông giục người nhanh bước / Trẻ dắt trâu về tiếng sáo bay. Bằng nghệ thuật thi vị hóa, bài Tập đọc sau đây vẫn đọng lại trong bao thế hệ học trò: “Ai bảo chăn trâu là khổ? – Không, chăn trâu sướng lắm chứ ! Đầu tôi đội nón mê như lọng che. Tay cầm cành tre như roi ngựa, ngất nghểu ngồi trên mình trâu, tai nghe chim hót trong chòm cây, mắt trông bươm bướm lượn trên đám cỏ. Trong khoảng trời xanh, lá biếc, tôi với con trâu thảnh thơi vui thú, tưởng không còn gì sung sướng cho bằng! (Quốc văn giáo khoa thư – bài Chăn trâu). Ca dao tả mục đồng chăn trâu không phải ít: “Chú Cuội ngồi gốc cây đa / Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời / Cha thời ở tận trên trời / Con trâu ăn lúa no thời tắm sông”; “Con cóc ngồi góc cây vông / Chép răng chép lưỡi đợi mục đồng đi qua / Mục đồng nhắm mắt đi qua / Chép răng chép lưỡi chửi cha mục đồng”. Vẽ mục đồng chăn trâu là đề tài và cũng là nguồn cảm hứng của các nhà nghệ sĩ, nhất là các nghệ sĩ vẽ tranh dân gian Đông Hồ. 



Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

Em ngồi gội nước hương chanh

Huỳnh Kim Bửu

Về quê hóng gió la đà
Hóng con mắt nhớ, hóng bà con xa
Hóng trăng non, hóng trăng tà
Gió đưa gió đẩy áo đà sư cô.
Về quê tắm mát sông Ngô
Hỏi bờ lau lách trắng cờ làm chi?
Hỏi cô em đứng nhu mì
Đợi đò hay đợi xuân thì cầm trao.
Về quê ngủ với cào cào
Mắt kia thì ngủ, mắt này nhìn mây
Mây nào phủ ngọn hàng cây
Mây nào xuống thấp cho ai xây thành?
Em ngồi gội nước hương chanh
Tóc em thơm hết tuổi xanh tôi rồi.
Sông trôi con nước cũng trôi
Chín chiều ra bến ngó đôi nhạn hồng
Be the first to like this post.

20 phản hồi

  1. Xin chào các bạn đã góp ý, các bạn thật vui, đã làm cho thơ tôi có chỗ đứng và tôi có thêm niềm tự tin. Tôi không tin bagia vuitinh là bagia mà trái lại! Xin cảm ơn và chúc các bạn vui khỏe. Thân mến, HKB.
  2. Tui đã được tham dự Buổi giới thiệu tác phẩm tác giả Huỳnh Kim Bửu tại Câu lạc bộ thơ Xuân Diêu tổ chức ( tháng…)năm 2010. Tui cũng được đọc nhiều bài thơ của anh mang đậm nét những hình bóng quê hương, tình bạn bè, tình làng nghĩa xóm, tình thương gia đình…tất cả được vẽ nên như những bức tranh tuyệt đẹp, mộc mạc mà sống động .
    Hy vọng anh sẽ giới thiệu thêm nhiều bài của anh trên trang web này để anh chị em cùng thưởng thức nữa nhé !
  3. on 21.02.2011 lúc 09:25 | Trả lời TRẦN BÁ NGHĨA
    đồng sim nước loáng xói cồn
    hầm hô đá chởm nước mòn lạch khe
    xa xa trắng cát xanh tre
    cô em lội ngược quần che nghiêng đầu
    kôn giang ai gọi hà giao
  4. Bài thơ nhẹ nhàng tình cảm chân quê mà dễ thương ghê.
    Chúc nhà thơ HUỲNH KIM BỬU khoẻ, vui , và tràn ngập niềm hạnh phúc trong mùa xuân mới nhe.
    Thân mến.
  5. Bài thơ anh HKB. vẽ một bức tranh chân quê thật nhẹ nhàng, thật hay.
  6. Thơ nhẹ nhàng dễ thương! với nét chân quê!thật đẹp.
  7. Thơ hay lắm, nhẹ nhàng,dễ thương.
  8. on 20.02.2011 lúc 18:30 | Trả lời TRẦN BÁ NGHĨA
    sông trôi con nước cũng trôi…dìa quơ ngủ dí cào cào
    đã quá sá trời lun
  9. Bài thơ nghe nhẹ nhàng, mơn man như hương đồng cỏ nội!
  10. THƠ HAY, ĐẬM ĐÀ HỒN DÂN TỘC
  11. Bây giờ thì đã có sunsilk hương chanh rầu…nhưng thơ vẫn cứ hay như thuở nào
    • Chị Nhõng quơi ! sao kỳ dẫy ta….theo em là :….nhưng hương chanh ngày đó vẫn thơm như thuở nào ! được hông chị ?
  12. Thơ hay lắm, mà hình lại đẹp….sao hao hao Xù và Nị hè !
  13. Thơ nhẹ nhàng như gió như mây…..bức tranh quê đẹp quá Anh Bửu ơi !