.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Bảy, 19 tháng 2, 2011

Tản văn của Huỳnh Văn 


Làng cổ



Mới mấy chục năm thôi mà cái làng đã thay đổi nhiều lắm. Phỏng chừng không lâu nữa, có ai đó vì lòng hoài cổ, muốn tìm lại cái làng xưa để thăm một chuyến, e sẽ bị khó tìm, nếu không muốn nói ngay rằng không tìm đâu ra.

Phần nhiều, làng lập ven sông, từ xa nhìn thấy, làng phất phơ những khóm tre, ẩn hiện những xóm nhà, còn đồng làng thì trải rộng một màu xanh cây lúa non (hoặc màu vàng mùa lúa chín) tới phía chân trời. Con đường dẫn vào làng là hương lộ (nối làng nọ với làng kia), chạy qua cổng làng rồi chạy từ đầu làng đến cuối xóm, chạy suốt trong làng. Đường làng đắp đất cao, cũng gọi là bờ đổ (Ai đi bờ đổ một mình / Phất phơ chéo áo giống hình trò Ba … – Ca dao), tạo nên con đê đầu làng để ngăn, không cho con sông đổ những cơn lũ lớn vào làng. Làng lập ven sông để sông dẫn nước vào ruộng đồng, và còn để dân làng sắm thuyền, sõng đi lại trên sông nước, tiện lợi hơn nhiều so với đường bộ thời đó. Nhìn làng, người ta thấy bao vẻ đẹp của phong cảnh thiên nhiên và cuộc sống con người: Làng ta phong cảnh hữu tình / Dân cư giang khúc như hình con long / Nhờ trời hạ kế sang đông / Làm nghề cày cấy vun trồng tốt tươi”…- Ca dao.

Người ta vẫn bảo, cuộc sống trong các làng quê diễn ra ở phía sau lũy tre làng. Nó thật thanh bình, mỗi khi ta đứng ngắm cảnh chiều: Một màu ráng chiều nhuộm đỏ da trời, một cảnh trâu bò về trên đường thôn, đó đây những cột khói un đồng vật vã trong gió, đàn trẻ nhỏ say sưa thả diều trên đê…Trên cánh đồng làng, nhà nông có hai mùa cấy cày cắt hái, vào tháng 3 và tháng mười mỗi năm. Đến mùa màng, ai cũng làm lụng vất vả, chân lấm tay bùn, còn đồng làng thì hứng giọt mồ hôi của nông dân. Cho đến khi, hạt lúa chín ngoài đồng được đem về nhà, phơi khô quạt sạch mà cất vào lẫm, vào bồ; những ruộng chân thấp, ruộng chân cao đều được cày cấy xong, thì thời gian còn lại là để cho nhà nông nghỉ tay, hưởng nhàn và chờ đợi mùa sau. Trong cảnh nông nhàn, các làng quê thường tổ chức tết tư, lễ hội, các cuộc vui chơi, giải trí. Tháng giêng có tết Nguyên đán, tết Nguyên tiêu, tháng năm - Tết Đoan ngọ, tháng bảy - lễ hội Vu lan báo hiếu, tháng tám – tết Trung Thu…Người ta thường nói “Dĩ thực vi tiên”, cho nên có lễ tết là có tổ chức ăn uống, vui chơi. Tết Nguyên đán thì “Có nghèo cũng ngày Tết, có hết cũng ngày mùa” kèm theo hội làng với nhiều việc cúng tế đình đám, biểu diễn trò chơi dân gian (đánh đu, hội bài chòi, xổ cổ nhân…) và hát bội nơi đình làng, cho Thành hoàng chứng, đồng thời cũng để cho bàn dân thiên hạ xem.  Nhưng cuộc sống, mà cụ thể là cái ăn cái mặc, đâu có cợt đùa với nông dân, cho nên người ta còn phải tranh thủ nông nhàn để làm các nghề phụ như một cách kiếm thêm kế sinh nhai. Trong các làng quê, mỗi làng thường sở trường và nổi tiếng một vài ngành nghề riêng, để cho tên ngành nghề gắn liền với tên làng, như: Làng dệt Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng bún tươi Ngãi Chánh, làng nem - chợ Huyện…Ở Bình Định, vẫn lưu truyền câu ca dao: Lụa Phú Phong nên duyên nên nợ / Nón Gò Găng khắp chợ mến thương – Ca dao. Nổi tiếng cả nước, có làng gốm Bát Tràng, tương Bần, nón  Chuông…Bên cạnh những làng nổi tiếng vì nghề, còn có những làng nổi tiếng vì là “đất vua” “đất học”, như làng cổ Đường Lâm (thuộc thị xã Sơn Tây – Hà Nội) là đất hai vua Phùng Hưng, Ngô Quyền cùng có nhiều danh sĩ, làng Kiên Mỹ có Bảo tàng vua Quang Trung xây dựng trên vườn nhà cũ của ba anh em nhà Tây Sơn, làng Phú Xuân có nhà lưu niệm nữ tướng Bùi Thị Xuân tọa lạc trên vườn nhà cũ của thân sinh ra bà… Nhờ là làng của thế tộc trâm anh một phần, và phần nữa là nhờ một bài thơ hay mà thôn Vỹ Dạ nổi tiếng, được người xa gần ít ai không biết: Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chư điền… - Đây thôn Vỹ Dạ, Hàn Mạc Tử.
Trên có nói cuộc sống của làng là thanh bình, nhưng không phải làng không có hồi bất trắc, tai ương. Đó là lúc bị thiên tai bão lụt mà sinh đói kém, lúc bởi sa cơ thất thế mà nghèo… Và cũng lắm khi là bởi địch họa mà điêu tàn. Cho nên, trong làng luôn có câu “Tình làng nghĩa xóm” để nhắc nhở nhau sống đoàn kết, hòa thuận; “Lá lành đùm lá rách” để hô hào cứu giúp nhau mỗi khi gặp phải khó khăn, hoạn nạn. Câu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” nói lên ý chí của toàn dân trong việc chống lại giặc ngoại xâm để bảo vệ làng, cũng như bảo vệ giang sơn - Tổ quốc.
Nói cuộc sống diễn ra sau lũy tre làng, nhưng không phải làng cô lập mà là làng mở, giữa các làng luôn có sự quan hệ gần gũi với nhau: Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông; Trai An Thái - gái An Vinh…Anh về bến Gỗ thăm cha / Tháng giêng em đợi, tháng ba em chờ / Ngó lên hòn An Tượng mây mờ / Thương người mòn mỏi đợi, giọt mưa trời cũng rơi nghiêng – Ca dao Bình Định.      

Lẽ đương nhiên, làng có ruộng đồng xanh tốt, làm nên sự trù phú, cho Đất lành chim đậu. Nhưng kìa, còn có những làng đất hẹp người đông, đồng chua nước mặn, phải mò cua bắt ốc kiếm sống mà cứ cầm chân người ta ở lại. Câu “Bỏ làng ra đi” là một câu chê trách những ai nỡ rời khỏi làng; dân ngụ cư bị coi khinh, vì đã một lần “bỏ làng ra đi”…Người ta có nhiều lý lẽ để ở lại làng. Nếu đi xa vì tìm sinh kế, người ta tự bảo ban: Vận nghèo đi tới xứ mô cũng nghèo; Gánh cực mà đổ trên non / Cắm đầu chạy trốn, cực còn đuổi theo... Người trọng cội nguồn thì đem câu: Nơi chôn rau cắt rốn, nơi mồ mả tổ tiên…mà tự an ủi, dẫu đói no cũng ở với làng. Bởi lẽ thị phi đó, cho nên ai bị cảnh ngộ nào đó phải rời xa làng, phải cách trở làng thì thương nhớ làng, khao khát một tình quê, một ngày về: về với làng cũ, cảnh xưa, với hình bóng mẹ già đợi trông: Tịch mịch sầu vơi bèo râm ran / Chuối vườn khuya lọt ánh trăng tàn / Người ơi quê cũ đèn hoe ngọn / Tóc bạc trông chừng cổng héo hon…- Cố Quận, Quang Dũng. Người nghệ sĩ nặng một tình quê đã đành, đến người làm quan to, cũng không kém, vì đã có không ít ông quan về hưu quan trí sĩ ở quê nhà, sống đời dân dã với dân làng: Chú Đáo bên đình lên với tớ / Ông Từ xóm Chợ lại cùng ta - Nguyễn Khuyến, và đến khi mãn đời, về cõi chẳng mô tê (thơ Xuân Diệu) thì gởi lại nắm xương tàn nơi quê cha đất tổ.

Hình như biểu tượng của cái làng cổ là cái cổng làng: Cổng làng xây gạch, loang lổ, lắm rêu phong, mọc trên hai mái cổng những cây ổi tàu xen lẩn cây bầu rượu, dây leo bìm bìm… với cảnh mỗi sớm mai: Cổng làng vội mở ồn ào / Nông phu lững thững đi vào nắng mai - Bàng Bá Lân. Còn bao nhiêu nữa những cảnh, những tình của làng xưa: Hàng cau liên phòng, ngõ trúc quanh co, con đò khua nước đêm trăng, những người vợ trẻ trông chồng đi xa về, những nỉ non tiếng đàn bầu đêm khuya khoắt…Phần nhiều, những gì đáng yêu, đáng quý kia đã vắng bóng và được thay thế bằng cuộc sống hiện đại, mặt nào đó có thể nói lắm cộ nhiều xe, lắm âm thanh hỗn tạp, lắm những tình cảnh cô đơn... Dù sao, cũng phải ghi nhận, hiện nay đang có phong trào xây dựng lại những cái cổng làng, nhưng những cổng làng đó vẫn không nói lên được cái hồn làng của ngày xưa.
  
Ôi, trong cuộc phát triển không ngừng ngày nay, liệu làm sao mà lưu giữ được mảnh hồn làng có tuổi 4000 năm như một bảo vật của tổ tiên, của các thế hệ ông cha ban tặng cho đàn hậu thế? Chớ không như có nhà thơ đã báo động: Xưa tôi sống trong làng / Giờ làng sống trong tôi -Thơ Nguyễn Ngọc Hạnh. 

 
    



Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


 Chùa làng

Dân gian ta có câu:
“Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.
Hiếm có làng nào vắng bóng một ngôi chùa. Chùa làng tôi có tên hiệu là chùa Phước Đức, quanh năm thiện nam tín nữ đi về rất đông.
Chùa Phước Đức ở trên một đồi cao, xa khu dân cư đông đúc. Chùa xây gạch lợp ngói, trước chùa có hồ sen, có cổng tam quan, kế tiếp là sân chùa và các ngôi nhà tổ, nhà khách, nhà tăng, nhà trù…Vườn chùa có mấy ngôi tháp cổ chôn cất hài cốt của các đời Tổ. Từ xóm Nhân Từ nhìn lên, chùa giống như một bông hoa sen tinh khiết nở giữa đất trời cao lộng và trong veo; con đường đất dẫn lên chùa giống như con rắn khổng lồ dài đến mấy trăm thước đang trườn mình bò lên chùa mà cái đầu rắn thì đã ở cổng tam quan, còn cái đuôi ở xóm Nhân Từ. Nghe nói vị sơ tổ của chùa là một vị cao tăng người Hoa, đến tu ở chùa Thánh Đức cách không xa, rồi lên đây lập chùa, vì thấy cảnh ở đây đẹp.
          Bà tôi tuổi già sức yếu vẫn siêng năng về chùa. Tôi nhớ lắm hình bóng bà ngồi xếp bằng trong chánh điện, tay lần tràng hạt, miệng lẩm nhẩm niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Những lúc ấy nhìn bà, tôi thương làm sao tóc bà bạc trắng, cái lưng bà còng và niềm tin cùng sự thành kính của bà trước Đức Như Lai. Người cao tuổi trong làng nói với con cháu: “Trẻ vui nhà già vui chùa”, nhưng thực tế, mọi thế hệ đều muốn lấy việc tìm về chùa làm niềm an lạc nơi cõi lòng. Người trung niên về chùa tìm sự thư giãn, quẳng đi những gánh lo âu của bao việc đời thường. Lũ trẻ con chúng tôi thích về chùa để được gần Bụt như trong truyện cổ tích, được tung tăng chạy nhảy trong vườn chùa râm mát những bóng cây cổ thụ. Mới đầu tháng tư Am lịch, mọi người đã mong cho tới ngày trăng tròn có lễ Phật Đản, mới đầu tháng Bảy, đã mong tới Rằm Vu Lan báo hiếu và xá tội vong nhân. Thế nào trong những ngày ấy, trẻ nhỏ cũng được mặc áo lam theo người lớn về chùa lễ Phật, xem lễ, xem múa lục cúng, phóng sanh đăng… Tôi thấy người làng tôi, ai ai cũng thích “về chùa”, “lên chùa”. Nhiều người nói, nhờ lên chùa mà lòng thêm thương mẹ già, biết thêm về đạo hiếu, đạo lớn nhất trong giáo lý Phật giáo:
 “Lên chùa thấy Phật muốn tu
Về nhà thấy mẹ công phu chưa đền” (Ca dao);
 biết thêm về đạo cứu khổ cứu nạn chúng sinh:
 “Dẫu xây chín bậc Phù đồ
 Không bằng làm phước giúp cho một người” (Ca dao).   
           Nhờ lên chùa mà bao người thêm yêu cảnh chùa:
”Thỏ thẻ rừng mai chim cúng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh” (Chu Mạnh Trinh).
           Bà tôi, cũng như những người cao tuổi trong làng, bảo con cháu “khép” sẵn quan tài cho mình, gọi đó là cái “thọ đường” để “dưỡng già”. Những cái “thọ đường” đó thường được gởi ở chùa, đến khi có việc “hậu sự” mới được lấy về. Ông bà mình thật đã xem cái chết là một cuộc “sinh ký tử quy”, là điều chấp nhận. Có lẽ nhờ vậy mà họ sống vui tươi và coi cái chết cũng nhẹ nhàng hơn.
         Ở trong làng An Định xưa, quý thầy ở chùa là những người có học vấn nhất, cho nên ai có việc gì cũng về chùa thưa với thầy. Ông Hương bộ Cảnh làm ăn khá lên,  định làm một việc “bách niên” là cất ngôi nhà cặp ba gian hai chái, một hôm về chùa thưa thầy chỉ vẽ, bảo ban cho. Ông Bầu Đước về chùa thưa thầy “cho chữ” để về làm một tấm liễn thêu đi mừng thằng cháu họ “thập niên đăng hỏa”, vừa mới thi đỗ ở trường thi hương Bình Định. Bà Hai Hành có thằng con trai hư, sa đà nát ruợu, cha mẹ dạy không được, nay đến nhờ thầy dạy bảo nó. Anh Hai An nghèo lắm, ráng cất cái nhà tranh vách đất, giữa chừng thiếu chục cây tre, liền chạy về chùa. Nhà ai có ngày cúng giỗ, về chùa xin mấy bình hoa điệp, hoa cúc vạn thọ đem về cắm trên bàn thờ gia tiên (Hồi xưa, chợ Bình Định, chợ Đập Đá chưa bán hoa như bây giờ). Từ việc lớn đến việc nhỏ, người ta đều cần tới chùa. Thậm chí, những nhà hàng xóm láng giềng của chùa, tới bữa ăn, thiếu chén tương ngọt, miếng dưa cải chua, trái ớt cay chín đỏ… cũng vội vượt trổ rào băng sang chùa. Không ai ngại nhà chùa đóng cửa hay chú tiễu chùa có hôm thiếu lòng hoan hỷ. 
       Dân trong làng thức ngủ, đi làm đồng, đi chợ gần chợ xa, trẻ nhỏ chúng tôi đi học… đều làm theo tiếng chuông trống kinh hôm, kinh mai từ chùa vọng ra. Người đi làm ăn xa về, từ xa nhìn thấy nóc chùa, cổng tam quan chùa quen thuộc lòng đã nôn nao. Nhìn thấy chùa là biết rằng, chốc nữa đây mình sẽ tới nhà và cái cảnh “Thầy mẹ đợi em trông” (Xuân Tâm) như đang rõ dần trước mắt, níu chân mình chững lại.
       Những hôm chùa có ngày giỗ Tổ, người trong làng, chẳng cần bảo ban nhau mà ai cũng nhớ ngày. Vật phẩm thường được mang đến chùa trước ngày giỗ. Họ có gì cúng nấy, thường là gạo, nếp, rau quả, khuôn đậu phụ, chai dầu phụng… Đến ngày, ai cũng về chùa từ sớm để chung lo công việc nấu nướng, dâng cúng, bày bàn bày cỗ... Cúng xong, dường như với tâm thế người chủ nhà, sau khi dọn khách, họ mới cùng nhau ăn bữa cơm chay thanh đạm mà đầy tình đồng đạo, tình làng nghĩa xóm dưới mái chùa làng. Không ai lấy việc cúng dường nhiều hay ít thành chuyện để nói, mà nói với nhau về sự thành tâm, về những bằng chứng của việc “ở hiền gặp lành”, về những giáo lý của Phật giáo thể hiện sống động trong đời sống hàng ngày ở gia đình họ. Sư trụ trì, qúy thầy vẫn xuống làng tụng kinh cầu an hay cầu siêu cho bất kỳ gia đình nào hữu sự có tâm nguyện. Và người dân quê có vẻ như thực sự yên tâm nhờ các khóa lễ đó, vì họ tin rằng mình đã được cầu nguyện, được tế độ bằng lòng từ bi vô lượng của Đấng “Đại hùng lực”. Mỗi khi làng đến dịp “Xuân kỳ Thu tế”, hương chức của làng về chùa cung thỉnh sư Trụ trì và quý thầy tới đình làng tụng kinh “Cầu quốc thái dân an” và dự tế lễ. Gặp năm hạn hán, sợ ruộng đồng thất bát, dân làng có nguyện vọng cầu mưa thì nhà chùa thuận ý làm lễ tắm Phật, cầu “Phong điều vũ thuận”. Gặp năm thiên tai bão lụt, hạn hán mất mùa, thiếu đói, chùa kêu gọi lạc quyên, cứu trợ người bị nạn; lễ Vu Lan Rằm tháng Bảy hằng năm, chùa  có lễ chẩn bần. Những năm chiến tranh, ở đâu cũng sợ bom rơi đạn lạc, người ta kéo nhau về chùa ẩn núp. Nhưng chiến tranh mỗi ngày mỗi ác liệt, bom đạn và lửa chiến tranh không chừa đâu. Một ngày kia, làng cháy, nhà dân, nhà Phật tử cháy, chùa cũng không còn, người dân phải chạy tứ tản. Nhưng tới khi ngóng chừng bom đạn đã dứt, người ta lại lục tục trở về; ngồi trên thềm đổ nát, nhiều người cảm thấy nỗi xót xa, hụt hẩng, trống trải, vì nỗi không nhà, không chùa, vắng bóng quý thầy, vắng bóng ngôi chùa làng ngày nào vô cùng thân thuộc… Người ta còn nhớ, hồi 9 năm kháng chiến, nhà chùa phải “tăng cường” thực hiện “Dĩ nông vi thiền” để có lương thực “tự cấp tự túc”.
          Hồi xưa, phần lớn các chùa là những mái tranh vách đất; ta thường gặp những ngôi chùa nóc cao chót vót, đứng trong sân chùa nhìn lên phải trật ót mới thấy được nóc chùa. Các bà, các cô gái gói bánh ít lá gai bằng lá chuối, bẻ cái lá cho ra cái chóp cao, kiểu gói bánh đó người quê tôi gọi là gói bánh ít nóc chùa, đẹp hơn các kiểu khác. Những người thành thị có dịp đi về đồng quê, thường ghé lại thăm một cảnh chùa để tìm ở đó sự thanh tĩnh. Từ dáng vẻ bề ngoài kiến trúc của chùa đến sự thờ phượng bên trong với những pho tượng Phật, tượng La Hán, hoành phi liễn đối đều có  sức hấp dẫn du khách, nhất là những người có tấm lòng mộ đạo và hoài niệm những gì của thời xưa. Rồi nữa, một bữa cơm chay thanh đạm, một bữa trà mạn sen hương ngát do sư trụ trì mời, cũng đủ làm cho khách khó quên.

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011



Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


Nắng mới


Trong cái giá lạnh của Mùa Đông, vạn vật thu mình lại và diễn ra một cảnh Đông tàn. Người ta bảo, đó là vạn vật ngủ Đông. Nhưng rồi theo lẽ tuần hoàn, Đông qua cho mùa Xuân lại, đem theo về nắng mới.

Vạn vật đến Xuân thì bừng thức: Cây cỏ đâm chồi nẩy lộc, muông chim tưng bừng ca hót …Hòa cùng niềm vui đó, con người hớn hở đón chào chúa Xuân và nắng mới. Nắng mới đẹp lắm, người ta có nhiều chữ nghĩa để gọi tên nắng mới: Ánh thiều quang (Ngày Xuân con én đưa thoi / Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi (Thơ Kiều – Nguyễn Du), ánh dương quang, ánh hồng, nắng tươi, nắng vàng, nắng rực rỡ... Cái tên gọi nắng Xuân (vẫn đồng nghĩa với nắng mới) để đi cùng với gió Xuân (Xuân phong, Đông phong) sông Xuân (Xuân giang) núi Xuân (Xuân sơn), tuổi thanh xuân, ngày Xuân, đêm Xuân… Ngôn ngữ thời nay còn gọi nắng mới là nắng thủy tinh. Cái gì bền vững, trong suốt là thủy tinh, pha lê: Tình yêu đạt đến mức bền vững, trong suốt là tình yêu pha lê, thủy tinh. Nắng mới làm cho màu sắc thắm tươi, hương ngạt ngào, cho thiếu nữ má hồng môi thắm, cho những cụ bà “Nụ cười đen nhánh sau tay áo” (thơ Lưu Trọng Lư)… Hơn thế, người ta còn cảm nhận ở nắng mới bao điều cô lẻ, nhớ nhung mà sâu xa, huyền diệu hơn: “Ôi! Nắng vàng sao mà nhớ nhung / Có ai đàn lẻ để tơ chùng / Có ai tiễn biệt nơi xa ấy / Xui bước chân đây cũng ngại ngùng… “ (Huy Cận).

Thời tuổi thơ của mình, tôi có nhiều kỷ niệm với nắng mới, những kỷ niệm mãi vương vấn trong tôi. Đó là ngày tôi được nhìn thấy ba tôi từ bỏ chiếc áo tơi chiếu nặng nề, sũng nước mà người vẫn mang đi làm đồng ngày mưa bay gió vãi, nước lũ ngập trắng đồng. Đó là một buổi sáng, tôi được nhìn thấy má tôi đem chiếc mền bông gòn thủng nhiều lỗ (vì sự cháy leo của chậu lửa sưởi ấm đêm đêm) ra phơi trước nắng. Má bảo, trông cho nắng tốt, mền mau khô, đặng tối, lũ anh em chúng tôi có mà đắp, bởi vì vẫn còn cái rét muộn. Rồi những giàn bầu bí trong sân nở hoa vàng rực, rủ rê ong bướm bay về, dệt nên một cảnh đẹp làm lòng tôi sướng vui. Tôi nhớ hình bóng những cô gái quê ngồi bên giếng khơi, gội đầu bằng nước hương nhu dưới màu nắng ban mai ấm áp mà rực rỡ. Tôi còn nhớ như in, kỷ niệm được mặc quần áo mới, được đeo cặp sách mới đến trường trong ngày đầu năm mà ở đâu cũng tràn ngập một màu nắng vàng tươi. Vẫn chưa phai mờ cảm giác mát thịt mát da mỗi khi được tắm mát dòng sông quê lấp lánh màu nắng Xuân; cảm giác dịu êm nơi đôi bàn chân những hôm đi dạo trên những thảm cỏ xanh trải rộng dưới nắng vàng trên những ngọn đồi úp bát quanh vùng thành Hoàng Đế…Dưới nắng mới, lũ nhỏ trong cái xóm vẫn hàng ngày nghe thập thình tiếng chày giã gạo của những nhà hàng xáo, thường rủ nhau kéo ra đồng làng, bày đủ thứ trò chơi: Đào đất sét bờ sông nặn tu hú đem phơi nắng, ném thia lia trên mặt những ao sâu, hái cỏ chỉ, cỏ gà chơi đá gà, thắt bầy trâu, đàn nai, xếp hình để đọ sừng, đọ gạc…ăn thua với nhau.  Chao ôi, làm sao tôi kể hết những kỷ niệm êm đềm mà khó quên của thời thơ ấu mình được sống ở quê và được vui cùng nắng mới. Có thể nói, nắng mới và quê nhà vùng Phủ An là niềm hạnh phúc của tuổi thơ tôi. Chúng lặng lẽ để lại trong tôi một tình yêu dấu, những kỷ niệm êm đềm về một vùng quê cha đất tổ.

Từ bao năm nay, tôi sống ở thành phố. Dù cuộc kiếm sống ở đây bắt tôi phải luôn tất bật, nhưng bao giờ cũng vậy, sau buổi Đông tàn, lòng tôi vẫn rạo rực một tình cảm đón Xuân và nắng mới về. Rồi có một ngày, nắng mới lên. Từ hôm đó, hồn tôi như bao giờ cũng bỏ ngỏ để xao xuyến cùng với gió Đông, với sông Xuân, với màu nắng mới nơi tà áo nữ sinh mà tôi đã cho là đôi cánh thiên thần trong các pho truyện cổ tích. Tôi cũng xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi màu áo của các anh công nhân đang lao động hết mình vì sự nghiệp dựng xây cuộc sống mới. Tôi thực tình xao xuyến mỗi lần được ngắm nắng mới nơi các công viên xanh mà người ta vẫn bảo, đó là những lá phổi của thành phố đang phấn đấu trở thành một thành phố xanh – sạch – đẹp.
Tôi đã thật no nê chưa với cái thú vui cùng nắng mới nơi thành phố mà tôi đang cư trú?
Nhưng dù cho có ra sao, lòng tôi vẫn không khỏi hoài nhớ cái nắng mới của một vùng quê dưới chân thành Hoàng Đế. Nơi vùng quê đó, mùa Xuân và nắng mới bao giờ cũng huy hoàng rực rỡ, bầu trời cứ cao xanh cho muôn chim én bay về, mặt đất trải một màu xanh bao la rợn ngợp, và hồn người thì chất chứa bao niềm tươi vui, hoan hỷ. 

Thứ Ba, 1 tháng 2, 2011





Thơ Huỳnh Kim Bửu


Mùa Xuân và phố chiều

Mùa Xuân bắt đầu từ lá
Duyên em thắm lá trầu cay

Mùa Xuân bắt đầu từ mây
Bồng bềnh là tóc hôm bay gió chiều.

Nguyên tiêu Tân Mão – 2011

Thứ Năm, 27 tháng 1, 2011



Thơ Huỳnh Kim Bửu



Hát hoa kiểng tứ bình




 
Mai
Em tôi mười sáu trăng tròn
Chợ hoa mười tám rét mòn cội mai
Vàng tươi vừa mới chạm vai
Lộc tài hớn hở đợi ngày Lập Xuân.

Lan
Thâm trầm ngỏ ý cùng ai
Lan đình đã mở hội ngày trăm hoa
Có ngàn xưa có bây giờ
Vẻ chi hồ điệp còn ngờ ý Xuân.

Cúc
Thu rồi trời cũng áo xiêm
Một nhành cúc trắng gió thềm phất phơ
Em đôi mươi rất tình cờ
Vân vân cái quả cau vừa trầu xanh.

Trúc
Gần quân tử xa tiểu nhân
Sự đời ai kẻ lưng cong kệ người
Trúc tơ duyên cũ tuyệt vời
Cành nghiêng nghiêng ánh trăng mười sáu đây.
                          

        CUNG CHÚC TÂN XUÂN TÂN MÃO


      Nhân Tết Tân Mão về, xin chúc mừng Tân Xuân mang hạnh phúc đến cho mọi nhà, mang hy vọng và thành đạt đến cho hết thảy bạn bè. 

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011



Tản văn của Huỳnh Văn


Từ Tết ông Táo sang chuyện giữ lửa
        
         Táo quân, tức Vua Táo, dân gian gọi nôm na là Ông Táo. Trong một năm, chúng ta có nhiều ngày Tết: Tết Nguyên đán, Tết Đoan ngọ mồng năm tháng Năm, Tết Trung Thu Rằm tháng Tám…Và còn có một Tết nữa là Tết Táo quân, tục gọi là Tết Ông Táo 23 tháng Chạp Âm lịch.
          Ông Táo “thường trú”, ngự trên trang Táo của mỗi nhà. Và về trời theo lệ mỗi năm một lần vào đêm 23 tháng Chạp Âm lịch. Khuya đêm đó, nhà nào cũng tổ chức Tết Táo quân với nhiều đèn nến, mâm cơm, hoa qủa, vàng mã để cúng kính, tiễn đưa ông Táo về trời. Tương truyền thật khôi hài, ông Táo mặc áo mà không mặc quần, cưỡi cá chép rẽ mây đi lên trời. Cho nên trong bộ vàng mã kia không thể thiếu 3 bộ áo và con cá chép. Tại sao lại 3 bộ áo? Vì cũng theo tương truyền, nhà Táo có 3 vợ chồng, mà lại một vợ 2 chồng, khác quá với thế gian, làm người thế gian không hiểu nổi!.
         Ông Táo đi lên trời để làm việc gì? -Người ta bảo là để dự họp Thiên đình, tâu việc lành dữ của thế gian sau một năm cho Nhà trời nghe. Thế gian, nhà nào làm nhiều việc thiện thì được trời khen, ban phúc cho, nhà nào phạm điều ác thì bị trời quở và giáng họa. Việc họp này kéo dài đúng một tuần, từ 23 đến 30 tháng Chạp, cho nên phải quan trọng lắm.  
         Cúng ông Táo không phải mỗi năm một lần là ngày Tết Táo quân – 23 tháng Chạp mà còn nhiều lần nữa: Ngày cuối năm, 30 tháng Chạp, cúng rước Ông Bà về ăn tết cùng con cháu, đồng thời cũng là ngày cúng rước ông Táo trở về nhà; rồi nhân các ngày giỗ kỵ gia tiên, ngày sóc vọng hàng tháng... Chẳng biết có ai nghĩ rằng việc cúng kính đó là một hình thức chủ nhà hối lộ cho ông Táo – vị Thần giám sát công việc của nhà mình hay không?
         Ngoài việc giám sát, Táo còn giúp việc giữ lửa nữa. Tại sao lửa phải được giữ ở trong nhà?
         Ai cũng biết lửa cần cho cuộc sống của chúng ta. Hồi nguyên thủy, tìm ra lửa là một phát kiến vĩ đại của con người, để nhờ đó con người từ ăn sống, uống sống chuyển sang ăn chín, uống chín…Nhưng đã có lửa rồi mà với hoàn cảnh hồi xưa giữ cho luôn luôn có lửa cũng không phải là chuyện dễ; chớ đâu như bây giờ, người ta đánh cái que diêm, bật cái quẹt ga, lò ga là có được ngọn lửa. Bởi khó như thế, cho nên khi đã có lửa rồi thì phải lo mà giữ, duy trì cho lửa không tắt. Bà nội trợ làm bếp xong, vùi cái than hồng hay ủ lớp trấu hồng dưới lớp tro bếp để dành lửa cho bữa nấu ăn sau. Nhà có lửa là nhà ấm cúng, bếp có lửa là bếp của nhà có ăn, trái lại nhà ai lạnh bếp là nhà thiếu đói. Những người tốt bụng vẫn cầu mong điều tốt lành cho nhau, cho nên lòng họ sướng vui, mắt họ thấy vẻ nên thơ, vẻ đẹp nơi sợi khói lam chiều tỏa lên từ những mái tranh.
         Thuở lên 9 – 10 của tôi, mỗi khi cha mẹ đi vắng nhà, đi làm đồng, tôi vẫn ở nhà giữ nhà, trông đàn em nhỏ. Đến giờ nấu cơm, vo gạo xong, bắc nồi cơm lên bếp, tôi bới lớp tro ủ lửa để nhen bếp. Hôm nào tro lạnh, lửa không còn, thế là tôi phải bế thằng em nhỏ nhất, chạy sang nhà hàng xóm là nhà bác Tần để xin lửa. Tôi đặt cái than hồng vào lòng cái gói rơm giống như một cái tổ chim, cầm nó trên tay ù té chạy về nhà để thổi bùng lên thành một bếp lửa.
           Lửa ban đầu có giá trị thực dụng, cho ta bếp lửa để nấu ăn, ngọn đèn dầu lạc đêm đêm chong sáng trong ngôi nhà, chậu lửa hồng nổ tí tách sưởi ấm ta ngày Đông tháng giá… Nhưng về sau, lửa còn có thêm một ý nghĩa tâm linh. Ngày nay, ta có lắm kiểu thùng quẹt để cho ta ngọn lửa khi cần, vậy mà ta vẫn “giữ lửa” như giữ một báu vật linh thiêng. Ta có ngôi nhà mới, hôm đưa cả gia đình về ngôi nhà mới ở, ta chong ngọn đèn dầu hôi trên trang Táo đủ 3 ngày 3 đêm, vợ ta ủ một lò than hồng (cũng phải đủ 3 ngày 3 đêm) đặt nơi nhà bếp, cạnh cái lò ga hễ bật cái là có ngọn lửa màu xanh cháy rực.
           Ta làm cho có lửa, cố công giữ lửa, nhưng ngọn lửa có được duy trì hay không, việc đó ta còn cần đến oai thần và sự phù hộ của ông Táo, vua Bếp, của “Đông trù tư mệnh Táo phủ thần quân định quốc, hộ trạch đại thiên tôn” (Lời khấn của chủ nhà trong mỗi bữa cúng ông Táo).
          Chao ôi, người ta sợ mất ngọn lửa hồng trong bếp, nhưng cớ sao có mấy ai sợ mình mất ngọn lửa trong trái tim? Vì mất lửa trong trái tim, cho nên trái tim ta lạnh giá, ta sống lạnh lùng, vô cảm với người chung quanh, với cộng đồng xã hội; ta đành lòng làm một công chức chây lười, ngại khó, giỏi gian dối và ưa uốn lưỡi nịnh hót rất đáng trách. Vì mất lửa nhiệt tình cho nên người có chức có quyền mới sinh ra bao thói hư (quan liêu, bệnh thành tích, mất dân chủ, gây mất lòng dân…) chọn cho mình cuộc sống vinh thân phì gia bằng tiền của tham nhũng.
          Một cái Tết Nguyên đán nữa sắp đến rồi, và chúng ta cũng sẽ có một cái Tết Ông Táo đến trước đó đúng một tuần. Nói Tết là nói đến nghỉ ngơi và ăn chơi theo nghĩa “ăn Tết”. Nhưng đó là cảnh Tết của những người có cuộc sống phong lưu trở lên. Còn đối với những người nghèo khổ, bất hạnh, nạn nhân thiên tai lũ lụt miền Trung kia thì sao? -Họ sẽ cầu cho có “đỏ lửa ba ngày Tết”. Nhưng lời cầu đó có “thiêng” hay không, có trở thành hiện thực hay không thì không phải tùy thuộc ở Ông Táo, ở Táo phủ thần quân định quốc hộ trạch mà ở tấm lòng của tất cả chúng ta, của “Người trong một nước phải thương nhau cùng” mà dành sự cứu giúp thơm thảo cho họ.
          Và tôi cũng mong sao từ mùa Xuân này, những “công bộc” của dân, ai cũng có lửa nhiệt tình để lo cho dân, cho nước; cô hàng xóm lỡ duyên, lỡ phận của tôi không còn than câu: “Đời em đã tắt lửa lòng từ lâu” trước những chàng trai có cảm tình với nàng.




Thơ Huỳnh Kim Bửu




Tứ bình Xuân ý



Khai bút
Thầy Đồ khai bút đầu Xuân
Động tình giấy trắng, dè chừng nghiên son.
Nặng lòng, chữ nghĩa véo von
Lộng trong trời đất vạnh tròn Nguyên tiêu.

Khai hội
Giêng hai xuống tận trăm miền
Trống chầu, trống chiến, ngả nghiêng hội làng.
Trăng đồng cởi áo lên ngàn
Những nàng đi hội nhuộm vàng gió sông.

Khai tâm
Lên tư  rồi lại lên năm
Xuân này đời đã khai tâm bé rồi.
Quan trên đi chùa trăm nơi
Khai tâm học một câu “Vừa lòng dân”.

Khai trương
Mùa Xuân khai trương đất trời
Người khai trương những mối lời nhỏ to
Em khai trương những hẹn hò
Tôi khai trương những tình cờ có không.

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Bình: CHUYỆN NGÀY XƯA KỈ NIỆM MÙ GIĂNG (Huỳnh Kim Bửu)

by Trần Hà Nam on Tuesday, December 21, 2010 at 9:08am Đọc Mùa thu biết thở ra hương của Huỳnh Kim Bửu, tôi cảm nhận một không khí bàng bạc của những hồi ức, những kỉ niệm thấm đẫm nhớ nhung. Đúng như tên gọi bao trùm tập thơ này, những bài thơ của Huỳnh Kim Bửu mang theo cái hương vị bâng khuâng man mác, cái chiêm nghiệm từng trải, chắt lọc từng vẻ đẹp cuộc đời. Bài thơ nào cũng dễ cảm, đem lại một cảm giác khoan khoái như uống một chén trà hay nhấm nháp từng ngụm cà phê trong buổi sớm. Tôi nhận ra một Huỳnh Kim Bửu rất rõ trong bài thơ ngắn nhan đề Góp cho ngày:
Hoa phong lan sáng ngày bừng nở
Một nét ban mai rực rỡ thay
Hiên sương ông lão uống trà sớm
Thả một làn hương góp cho ngày
          Nhiều bài thơ khác của anh cũng mang theo cảm giác cho người đọc như đang đắm mình vào làn hương thu hoài niệm ấy. Con người khi đã đi qua bao thăng trầm cuộc sống, mới thấy quý vô cùng những vẻ đẹp và trân trọng nâng niu tình đời tình người. Tôi đã dừng lại rất lâu ở bài thơ Chuyện ngày xưa kỉ niệm mù giăng.
          Bắt đầu bằng một lời thơ tự sự "Tôi trở về Quy Nhơn ngày ấy...", anh dẫn dắt chúng ta về với một Quy Nhơn xưa rất đẹp và rất thơ, với những địa danh rất đặc trưng Khu Sáu, Xuân Quơn, Khu Hai... Một Quy Nhơn với đường bàn cờ, động cát, làng nhỏ trồng rau, thuyền buồm san sát với kí ức tràn ngập nắng và gió biển. Cũng là những hình ảnh ta thường gặp đấy thôi, nhưng soi chiếu qua lời thơ Huỳnh Kim Bửu, bỗng nhiên nôn nao gợi nhớ gợi thương lạ lùng:
          Tôi trở về Quy Nhơn ngày ấy
          Đường bàn cờ Khu Sáu nắng chang
          Đâu biết được tình em động cát
Cho nên chiều Khu Sáu rất vàng
Và: Chị dưới ruộng xoay chiều tán lá
Che nắng mai che tiếp nắng chiều
Có lẽ ai từng gắn bó Quy Nhơn mới nhận ra cái lam lũ cát lầm bình dị của mảnh đất này mới chính là điều dễ để thương để nhớ. Quy Nhơn của Huỳnh Kim Bửu là những hồi ức từ thưở học trò chăng, nên hiện tại lại mang bóng hình kí ức:
Quy Nhơn thời "sôi kinh nấu sử"
Học trò nghèo gác trọ đèn chong.
Tô phở nhỏ đâu ấm lòng sĩ tử
Hè phố nào cũng áo trắng bay ngang
Tôi không muốn bình giá về nghệ thuật, về hình tượng hay ngôn từ gì ở đây, mà chỉ muốn như một người thưởng thức thuần túy để thơ bất chợt đến với mình. Để nghe từ lời thơ, một tiếng nhạc lòng đồng điệu, để cùng nhớ cùng thương với thi sĩ về Quy Nhơn trong ánh trăng dậy tiếng thơ Hàn:
Tôi trở về Quy Nhơn ngày ấy
Câu thơ Hàn lạnh buốt đêm trăng
Bạn bè cũ nửa quên nửa nhớ
Chuyện ngày xưa kỉ niệm mù giăng
Nhớ một Quy Nhơn bình dị, nên những câu thơ cũng bình dị như trải lòng với đất với người. Bài thơ kết rồi, nhưng dư ba còn đó, đánh thức ân tình, làm ta quên đi những mệt mỏi thường nhật mà nhớ một Quy Nhơn với bao gương mặt bạn bè, với tình thơ làm ta yêu ta quý hơn mảnh đất này.
Cảm ơn nhà thơ, và chúng ta hãy cùng nghe lại một lần nữa những vần thơ ân tình trong Chuyện ngày xưa kỉ niệm mù giăng  của anh.
                                TRẦN HÀ NAM

Mộ Hàn Mặc Tử - Gành

Thứ Năm, 13 tháng 1, 2011

Thơ Huỳnh Kim Bửu
 
Lời chào trước mùa Xuân

Ta chào Xuân trên đường pháo bông
Xuân như thể áo em lụa hồng
Xuân như thể từ trong lộc biếc
Như hôm nào hạt bụi rất trong.

Ta chào những con đường cỏ non
Những con đường người đi đã mòn
Chào chiếc cầu quê ta mới bắc
Những ngựa xe nước chảy bồn chồn.

Ta chào em bằng hồn trong mắt
Gặp em rồi nhớ tuổi mười lăm
Nhớ giọt trăng rơi xuống thì thầm
Ta đứng giữa mùa Xuân rất ngọt.

Ta chào những sớm mai như ngọc
Những em thơ gương mặt hồng hào
Chào siêu thị người lên thang cuốn
Hạnh phúc em cầm cũng giá cao.