.


nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương - nơi hội tụ văn chương

Thứ Hai, 20 tháng 12, 2010

Tản văn của Huỳnh Văn

"Trong như tiếng hạc bay qua"
 

       Đồ chơi trẻ con xưa đã vắng bóng. Đó là một cuộc chia tay "một đi không trở lại" với chúng ta.
       Đổ chơi của trẻ con làng An Định, hồi cách nay vài ba thế hệ, có thể chia thành mấy nhóm:
       Nhóm tạo tiếng:
- Tiếng súng: Súng làm bằng ống trúc, bắn bằng "đạn" trái nổ hái ngoài bờ rào (hoặc mảnh giấy nhai ướt, vò viên to bằng trái nổ), nhét chặt vào nòng súng. Khi bắn, đẩy viên đạn ra khỏi nòng, là có được tiếng nổ: đùng. Súng này chỉ bắn phát một.
 
        Súng liên thanh là súng bẹ chuối chẻ dọc làm 3 phần, cầm lắt, bẹ chuối đập vào nhau tạch... tạch...liên thanh.  Lũ trẻ con xóm Miễu Tây cãi, bảo cái này, gọi là pháo liên thanh thì đúng hơn, vì súng thì phải nhằm mà bắn.
        Ống thụt nước, không gây tiếng nổ mà vẫn gọi súng: súng nước. Súng có 2 bộ phận: một ống trúc dài chừng 4 - 5 tấc và một píttông. Lắp "đạn" là kéo píttông để hút nước, bắn là đẩy mạnh píttông, cho nước vọt mạnh vào "kẻ địch".
 - Tiếng trống, tiếng đàn, kèn: Trống phất da ếch, hoặc bong bóng lợn... Cắt ống tre dài chừng 20 phân làm tang trống. Phất một mặt hay cả hai mặt cắt của tang trống, đoạn đem phơi nắng. Khi trống khô thì mặt trống căng ra, cầm dùi gõ, trống kêu tu...m...tu...m...Cần chú ý phất mặt trống thật căng, cho tiếng trống giòn, nhỡ dùn trống kêu nhão là không hay. Tôi có lần phải dại, sáng ngày ngủ dậy, thấy mặt trống dùn, nôn nóng đem hơ lửa để kịp mang theo đến trường đặng thi đấu với bọn cùng lớp. Bị lửa, mặt trống phồng lên, nổ bụp, thế là "trống thủng khó hàn".
       Trống rung giống như cái kính lúp ở phòng thí nghiệm, phất giấy bóng hoặc da ếch hoặc bong bóng lợn, đeo hai bên tang trống hai viên đất sét lớn bằng hột đậu xanh (hoặc vài hột cơm khô) bởi một sợi dây chỉ mành. Khi chơi, đặt cán trống giữa lòng hai bàn tay mà xe tròn, trống rung kêu rinh rinh...do va đập hai viên đất sét vào hai mặt trống. Hễ rung mạnh thì nhịp trống nhanh, tiếng kêu to, rung yếu nhịp chậm, kêu nhỏ. Tết là mùa của trống rung, nhà có trẻ con là có tiếng trống rung rinh... rinh... Được thế, nhờ trong xóm, trong làng có nhiều nhà giết lợn ăn Tết, ném cái bong bóng lợn ra cho trẻ con làm trống rung.
       Bạn hàng xóm của tôi có mấy đứa là con cái nhà thợ mộc. Chúng làm được cây đàn thập lục trên lưng nửa ống tre khô chẻ dọc; cũng làm được cây đàn nhị, cây sáo trúc. Chúng còn có sáng kiến bứt đuôi ngựa để làm sợi dây kéo đàn cò, cho được tiếng đàn mà anh Hai Trí (học College Quy Nhơn) mỗi lần về, nghe được đều  khen:  "Trong như tiếng hạc bay qua" (Thơ Kiều - Nguyễn Du).
      Kèn dứa, kèn lá chuối được nhiều chú bé chơi say mê lắm. Loa kèn to, thổi tiếng to. Nhiều nhóc cưng chơi nghịch, lén kê loa kèn vào tai người lớn mà thổi mạnh, cho giật mình, điếc tai để có dịp thích chí cười, dẫu cho có lần bị chụp tay, véo đau một cái.
       Có đứa trẻ nhỏ nào chẳng thích âm thanh? Rạp hát Cửu Ba trong làng, cứ chiều về rao quảng cáo đêm hát. Kê trống trên cỗ xe ngựa, chạy rao khắp làng với đám trẻ nhỏ bâu theo tự nguyện đánh trống: bùm cắc bùm, cắc tang...Thế là chủ rạp mừng lắm, vì không cần phải thuê người đi rao quảng cáo. Mỗi lần, hương chức làng cho xả phèng la: phèn... phèng... (3 hồi chín tiếng) để gọi phu phen làm tạp dịch, liền có trẻ nhỏ đến vây lấy, nhận dùi đánh thay chú Mõ.   
       Nhóm tạo hình:
       -Dùng đất sét mà nặn các con vật. Nặn voi thì chú ý cái vòi, lấy cọng cỏ may làm ngà; nặn trâu ráng vuốt cặp sừng cho cong, nhọn; ngựa thì lấy râu bắp (hoặc tướt lá chuối) dán lên làm bờm, làm đuôi, cắt mo nan làm yên; gà vịt bẻ chân nhang làm chân. Két, nhồng, sáo, cưởng...con giang cánh thì cột dây chuối treo, con đậu thì đứng trên đôi chân cũng nặn bằng đất sét.
      Nặn cối xay bột, cối giã gạo, chậu, thau, ông táo, hũ bùng binh ... bằng đất sét. Những "tác phẩm" này để ngắm chơi mà cũng để làm đồ hàng chơi buôn bán.  Nhiều chú nhỏ cũng thích thú chất hộp quẹt diêm thành ngôi nhà gạch, đặt trước cửa con chó đất sét giữ nhà, con gà cồ đất sét rướn cổ mà không gáy lên tiếng...
      - Cũng dùng giấy để thắt con chim, chiếc thuyền, chiếc tàu bay...Chơi thuyền giấy thì thả xuống dòng nước mưa trong sân mà vỗ tay hò khoan...ứ ư khoan hò... Chơi tàu bay giấy thì leo cao, ném lên trời, cho tàu bay đảo qua đảo lại, nghiêng cánh nhòm mấy lượt, rồi đậu xuống đất "an toàn" như có phi công lái, nhẹ như một chiếc lá khô rơi.
       Nhóm "cơ khí":
     Chỉ cần một đoạn trúc thẳng, dài chừng 1 mét, làm cán, kẹp một trái vông đồng khô làm bánh xe là có được một cỗ xe đẩy đi chơi khắp xóm.
      Một hôm, thằng Tí bảo, còn phải có chiếc xe hòm kín, như xe của ông Đốc học hôm lái về thanh tra trường An Định. Vậy thì tôi và Tí đã ra bờ sông đào đất sét để nặn xe hòm. Nặn hòm xe xong, chọn mảnh chai trắng làm kính xe, lấy 4 đồng xu lửa (tiền Đông Dương bằng kim loại đồng) làm 4 bánh xe. Thế là 2 thằng Cu đã "sản xuất" xong và "xuất xưởng" sớm một chiếc ô tô con, rồi thay phiên nhau "lái" đi chơi.
       Nhóm ngẫu hứng:
      Trẻ xóm Miễu Tây, xóm Miễu Nam lân cận, hôm nào tụ họp được 5 - 7 thường không khỏi bày cuộc chơi. Chơi hát bội, tức thì chằm mũ lá mít, lá xoài, dán râu ngô (giá như có mặt nạ bây giờ) thương giáo là cành tre, cán trúc vạt nhọn, chuốt láng, (chứ có đâu đồ chơi súng gươm gắn mắt điện tử, chạy pin của trẻ con thời nay). Hòn bi ve hiếm lắm, cái quả bóng tròn làm gì có. Trẻ con làng An Định muốn có hòn bi chơi thì nặn đất sét; muốn có quả bóng tròn thì làm banh quả bưởi, banh nhồi rơm ràng rịt chặt chịa bằng dây chuối. Các "cầu thủ"  ôm "banh" ra sân, chia 2 đội, đá ... bịch bịch ... không hề có cú banh bỏng. Cũng có trọng tài thổi còi lá dứa cho trận đấu. Bé gái bắt chước chị đeo bông tai hoa ổi tàu; nhẫn cỏ chỉ, cỏ gà; bé trai không chịu thua, "lên đời" đeo cà rá, đồng hồ, kính râm, kính lão lá dứa. Nhiều bữa, khách đi trên đường làng, thấy lũ nhỏ sắp một hàng dài trước gió nồm rộ. Mỗi đứa đưa một chong chóng dứa ra gió, chong chóng quay tít, cười thích chí lắm. Mấy chú mê chọi vụ, tìm khúc gỗ bồ lời (có tiếng u dài) ngồi tẩn mẩn đẽo gọt cho thành một cái vụ, rồi thủ vụ trong túi quần với vẻ hí hửng, chờ phen chọi thi với bạn "cho rõ mặt anh hào".
        Trẻ nhỏ hồi xưa khan hiếm đồ chơi lắm, cho nên gặp cán chổi, tàu cau, bẹ chuối, cán cuốc, cán trang...thì tay cầm, đít thót lên (kẹp vô háng), làm kỵ sĩ ngồi lưng ngựa, thúc ngựa phi nước đại, hết trong sân ra ngoài ngõ. Mỗi năm cứ đến tháng Chạp, các thợ thủ công vùng thành Hoàng Đế, làm đồ chơi: cái trống rung bịt giấy bóng, sơn tang đỏ; con cò trắng đậu trên cành trúc vàng, con gà cồ đất sơn vôi trắng, gắn lưỡi gà ở đít, để kê miệng thổi, gà gáy ó ò o... Hàng đó đem bán ở các chợ Tết. Nhưng đa số trẻ con tự làm lấy đồ chơi. Anh em nhà tôi, mỗi lần đến Tết nguyên đán thì nặn đồ hàng bằng đất sét, làm đèn xếp; Tết Trung Thu, làm đèn trái ấu bằng khung nan tre, phất giấy gương ngũ sắc.

       Trẻ con ngày nay, nhất là trẻ ở các thành thị, có cả một kho, một núi đồ chơi ở trong nhà. Những đồ chơi ấy phong phú đề tài, đa chủng loại, tự động, chạy pin, chạy dây cót, được sản xuất trong những nhà máy công nghệ hiện đại, và phần lớn nhập từ nước ngoài. Hàng xóm tôi, có cặp vợ chồng trẻ hôm nọ mua cái bong bóng kỳ lân với giá 100. 000đ cho quý tử chơi. Chơi mươi phút, bé hô, bong bóng xì hơi, bị ném trên nền nhà, bẹp như cái bánh tráng nhúng. Có ông nội hôm đi siêu thị mua cho thằng cháu đích tôn cái banh nhựa, to bằng cái bánh da thật ở Worlcub. Cả tháng rồi, ngày mấy bận đều đặn, thằng cháu vẫn một tay ôm banh, một tay kéo ông nội ra sân nhà, để ông cháu chuyền bóng, sút  bóng cho nhau.   
       Chuyện trẻ con hồi xưa chơi đồ chơi, chắc ngàn, vạn làng không khác mấy làng An Định của tôi. Xưa ông cha, và cả thế hệ chúng tôi (nay đã đầu hai thứ tóc) sống tuổi thơ của mình thiếu thốn, nghèo nàn, lây lất quá! Chẳng biết đầu óc của những ông Hai Lúa nổi tiếng thời nay có phải được sinh ra và nuôi dưỡng từ hồi xưa đó không?

Thứ Hai, 13 tháng 12, 2010

TRANG CHỦ arrow BÁO CHÍ arrow BÁNH XÈO
BÁNH XÈO In
HUỲNH KIM BỬU 
ĐÔNG ĂN... BÁNH XÈO
Thu ăn măng trúc, Đông ăn giá
Nguyễn Bỉnh Khiêm

Người quê tôi thích ăn uống, thích thưởng thức món ngon, vật lạ. Có như thế, mới có món nem chả chợ Huyện, bánh ít lá gai (*), rượu gạo Bàu Đá nổi tiếng... Món bánh xèo và thú ăn bánh xèo Bình Định cũng từ đó mà ra.
Bánh xèo chế biến từ thứ nguyên liệu là gạo. Gạo ngon (gạo lúa mới, trộng hạt) ngâm cách đêm hay cách buổi rồi đem xay thành bột nước. Khuôn bánh xèo làm bằng sắt, to bằng cái đĩa trái đào xưa (và cũng cạn như đáy đĩa). Người ta đúc (cũng gọi là đổ) bánh xèo trên bếp lò than hồng. Rải nhân bánh lên khuôn bôi trơn bằng dầu thực vật (hoặc thịt mỡ) đang nóng, múc một vá bột nước đổ lên, nghiêng khuôn cho bột tải đều, rồi đậy nắp vung lại. Chờ vài phút, đoạn mở nắp vung ra là có được một lá bánh xèo thơm phức, nóng hổi trên khuôn. Người ta "xem mặt đặt tên", hồ hởi gọi cái bánh đó là bánh xèo, vì khi đúc nghe tiếng dầu mỡ nổ "x... èo... x... èo..." đến vui tai. Nhưng cũng có nhiều nơi gọi đó là bánh "khoái", vì ăn "khoái khẩu" lắm.
 Bánh xèo có hai loại chính: bánh xèo vỏ và bánh xèo thịt. Bánh xèo vỏ đúc với dầu thực vật (thường là dầu phụng) hoặc mỡ heo, không có nhân, chỉ rải lưa thưa lá hành xắt nhỏ vừa làm hoa vừa thơm bánh. Bánh xèo thịt khá phong phú. Kể trước hết là loại nhân thịt heo và tôm xào, kèm giá đậu, còn được quen gọi là bánh xèo tôm thịt. Kể tiếp, loại nhân thịt bò ướp gia vị (đường, tiêu, bột ngọt...) kèm giá đậu... Bánh xèo tôm thịt vừa béo vừa ngọt, bánh xèo thịt bò ngọt ngon. Vùng quanh vạn Gò Bồi (quê ngoại của nhà thơ Xuân Diệu) có lợi thế gần sông, biển bắt được con tôm tươi rói. Nhờ nguồn tôm tươi này, người địa phương mở nhiều quán bánh xèo bên tỉnh lộ (từ huyện lỵ Tuy Phước chạy xuống). Các quán này thường đúc loại bánh xèo con tôm sống, nhảy lách... tách... trên khuôn để phục vụ khách tìm món ngon, thường từ Quy Nhơn lên. Bánh xèo nhân thịt ếch nhái, tuyệt hảo, nhưng mỗi năm chỉ ăn được một lần vào tiết tháng ba mưa rào, cái tháng dân gian dày kinh nghiệm ăn uống bảo: "Ếch tháng ba, gà tháng mười". Sự ăn uống luôn cầu kỳ: Hồi trước người ta ăn bánh xèo mềm, ngày nay người ta thích ăn bánh xèo giòn giòn, rán hai lần. Lại còn nẩy sinh ra cái "bánh xèo chảo" nữa. Bánh xèo chảo "bề thế" gấp 4 - 5 lần bánh xèo "cổ điển". Đúc bánh xèo đơn giản là vậy, nhưng không phải ai đúc cũng được cái bánh ngon. Bởi thế mới có chuyện trên một đường phố, trong một chợ quê, một thị trấn có chục quán bánh xèo mà vẫn nổi tiếng một vài quán bánh xèo ngon, điểm hẹn của thực khách sành ăn và yêu quý cái phong vị của quê nhà.
Mấy hôm nay gặp tiết trời sang Lập Đông, từ nắng nóng chuyển sang mưa đầu mùa, hơi mưa lạnh. Lại nữa, mấy chợ quê, chợ nào cũng nò rẩu, cá tôm... nhiều mà rẻ. Bà Hai Ngót đã mấy lần thầm tính chuyện: "Đúc một bữa bánh xèo cho cha con ổng ăn". Và hôm nay bà thực hiện ý định của mình. Một vò bột ngâm 3kg gạo mang sang xay nhờ hàng xóm đã mang về từ sáng sớm, thịt ngon, tôm tươi, các thứ nữa mua từ chợ Háo Lễ cũng đã kịp mang về. Ba mẹ con bà Hai Ngót (bà và hai cô con gái) thay phiên nhau ngồi trước một chòm ba hỏa lò rực lửa, đúc bánh xèo. Mùi bánh xèo thơm sực nức, từ nhà bà Hai Ngót, bay sang tận nhà hàng xóm, đến mũi vài người đi đường bị mưa, co ro trong áo tơi, nón lá. Đúc hồi lâu thì trên nia đã có được chục lá bánh xèo, vừa có vỏ vừa có thịt (bánh xèo tôm thịt). Còn về  "thực khách" của bà thì ông chồng và năm đứa con lớn nhỏ cũng đã thi nhau kêu đói bụng oai oái. Bà hối thúc hai con gái dọn nhanh bánh xèo lên mâm. Mâm bánh xèo trông thật thịnh soạn, bắt mắt, bắt mũi: Đĩa bánh xèo vỏ cao nghệu, trắng ngần, đĩa bánh xèo thịt cũng cao nghệu, vàng tươm, bên cạnh đó đĩa rau tươi non, trái ớt chín đỏ, nổi bật giữa mâm là chén nước mắm trong sóng sánh, chén mắm đục sền sệt, hai chai rượu nhãn hiệu Bàu Đá chờ cái phút giây mở nút, cụng ly. Mọi người vào "tiệc". Trong nhà bà Hai Ngót "nổ" ra tiệc bánh xèo, còn bên ngoài thì trời mưa đầu mùa lất phất, gió đầu mùa lạnh se se, ngoài đường ít người đi. Câu chuyện trong bữa ăn rôm rả. Ông Hai Ngót liếc mắt một vòng, hô lên: "Má sắp nhỏ cho đĩa rau sống xanh non thế này mà thiếu mấy cái lát khế chua ngọt chẻ dọc, là không được nghe". Rồi ông ngồi xuống cầm đũa, gắp bánh xèo, khen vợ: "Trời mưa mà bà cho ăn bánh xèo là sành tâm lý và yêu chồng con lắm nghe". Thằng Hai nối lời cha: "Nấm gặp mưa mỗi sáng mọc dày, đó ông Trời khiến má mình đúc bánh xèo mỗi ngày, cho cả nhà ăn sướng miệng". Thằng Ba "nối chí" anh: "Tui mà kén vợ thì nhất định phải kén cái con nhỏ Gái Huệ đúc được cái bánh xèo ngon ngoài chợ Bồ Đề". Thằng Tư nguýt mắt, bài bác: "Bộ ông là quân vương, nói dóc, bỏ đi Tám". Con Năm bám thời sự: "Còn nhớ không, năm kia, dân Mỹ có một cuộc ăn bánh xèo khoái khẩu trên đất Mỹ, do một bà nội trợ Việt Nam sang đúc, sướng chưa?". Con Sáu "thực tế": "Vừa thôi, bữa đó tụi nó a vào hàng bánh xèo, cũng như tui đã từng thấy mấy con đầm tóc vàng sang đây gặp hàng nón ngựa Gò Găng là a vào mua đội chơi, Mỹ mà"... Trong khi đó, bà Hai Ngót vừa đúc bánh xèo vừa "tiếp tế" cho bữa ăn, không ngớt đứng lên ngồi xuống, rất lăng xăng, vì bà muốn: "Cho cha con ổng ăn một bữa bánh xèo cho thỏa thích, cho hết thèm" (Lời bà).
Hôm nay bà Hai Ngót "hòa điệu" cùng người xóm miễu Tây, làng An Định, tổ chức cho cả nhà ăn bánh xèo ngày mưa Đông đầu mùa, khai mạc một mùa bánh xèo nữa lại đến. Cũng như ở các nơi khác, ở quê tôi người ta ăn bánh xèo quanh năm, nhưng hình như chỉ ở đây người ta mới có cái thú ăn bánh xèo mùa Đông, ăn bánh xèo ngày mưa. Có người tự nghĩ, bảo đó là cách người ta lấy cái nóng bánh xèo, nóng hỏa lò, nóng rượu, lấy cái quây quần ấm áp ở trong nhà... chế ngự cái lạnh mưa bay gió vãi ở ngoài trời. Khách thăm quê tôi tiết trời Đông dễ gặp những xóm nhà phủ cơn mưa tỏa sực nức mùi thơm bánh xèo, gặp bữa cỗ bánh xèo được chủ nhà mời ăn với cả tấm lòng xởi lởi và hiếu khách.
Tôi có nhìn thấy cái "văn hóa bánh xèo" trong mỗi gia đình quê tôi: Nhà đúc bánh xèo luôn dành những phần bánh xèo để biếu hàng xóm, "lại quả" nhà kia nhà nọ vì họ đã cho mượn bộ khuôn hãy còn bóng dầu mỡ, cái hỏa lò còn dính nhiều vệt trắng của bột bánh xèo đổ leo, và cả ông ở đầu xóm đã sẵn lòng dành cho một bữa xay bột nhờ... Thành ra lắm khi trong xóm miễu Tây của tôi một nhà đúc bánh xèo thôi là cả xóm được ăn bánh xèo.
(*) Muốn ăn bánh ít lá gai / Lấy chồng Bình Định cho dài đường đi (Ca dao).

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

Đèn dầu lạc một ngọn và hai ngọn

Page 1
1–6
superstar - member
603 posts
Đèn dầu lạc một ngọn và hai ngọn HTC sưu tầm mời các Bác xem!





...lung linh đèn dầu smile


__________________
Mobile: 0909278773
“Bạn phải cười và tìm thấy một chuyện vui, hài hước mỗi ngày.”
novice - member
45 posts
Rất ấn tượng dòng đèn gốm Nam Bộ, tuy 2 mà một như HTC và KHTN vậy. Cám ơn các bác đã cho thưởng lãm.
__________________
Mỗi ngày ta lại gặp nhiều niềm vui...
Nguyễn Xuân Trường
Tel: 0912124015
superstar - member
521 posts
Loại đèn vòi nhỏ, bụng to trong hay hay nhưng loại 2 vòi ấy ấy thì nỏ biết nên khen hay chê vì cái khó là ở 2 vòi...devil
__________________
phongluuqb.com - Thả bước tìm nơi chốn tụ quần.
superstar - member
652 posts
Ồ cũng hay lắm chứ !


Hai ngọn lửa lung linh
Đốt cháy một gia đình
Để cho hai chúng mình
Khỏi tranh dành rách việc
Mỗi đứa dùng một chiếc
Ai chơi ai làm việc
Cứ thả sức tung hoành
Dùng hai chiếc cho lành
Của em em lo giữ
Của anh mặc kệ anh
Hai ngọn lửa cứ xanh
Bên cạnh nhau cháy mãi
Không bao giờ tranh cãi
Mặc dầu lạc mất nhau.

xin chúc mừng!
 
__________________
OT-NB
novice - member
44 posts
Chào các bác !
hai cái đèn này có lẽ là đồ Lê , còn khá lành và trọn vẹn , chúc mừng bác !
__________________
Thanh NĐ
superstar - founder
895 posts
Đèn dầu lạc
Huỳnh Kim Bửu

 

 
Mở đầu truyện thơ Lục Vân Tiên, tác giả Nguyễn Đình Chiểu viết: “Trước đèn xem Truyện Tây Minh”. Cụ Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre mà Bến Tre thời của cụ (cuối thế kỷ thứ XIX) chắc là chưa có đèn dầu hỏa, đèn điện. Vậy thì “đèn” trong câu thơ của tác giả Lục Vân Tiên hẳn là đèn dầu lạc?
Người quê tôi không gọi đèn đó là đèn dầu lạc mà gọi nó là đèn dầu phộng, hoặc đèn dầu phụng.
 
Đèn dầu lạc gồm có hai bộ phận: Đĩa đèn để đựng dầu và một sợi dây bông gòn xe săng làm tim đèn. Gần như tim đèn được nhúng hoàn toàn vào dầu, chỉ có một đầu gác trên vành đĩa. Người ta bật lửa đốt đầu này là có được ngọn lửa sáng leo lét. Tôi cũng thấy những tim đèn làm bằng bông vải hoặc mảnh “vải ta” sạch, ít thấy tim đèn bằng ruột bấc. Tim đèn lớn thì ngọn đèn đỡ leo lét, sáng hơn nhưng lại hao dầu. Đèn thắp lâu thì “tim lụn dầu hao”; lúc đĩa dầu cạn, đèn nở hoa đèn; trước khi tắt đèn phựt sáng, rồi tắt hẳn. Má tôi có gánh hàng xén buôn bán luân phiên ở các chợ quê vùng Phủ An. Đêm nào đang ngồi “làm hàng” để sáng ngày gánh ra chợ mà nhìn thấy ngọn đèn dầu có hoa đèn (cũng như nghe thấy tiếng chuột xạ reo trong góc xó nhà) là má mừng bảo: “Ngày mai nhất định má mua may bán đắt”. Đó là kinh nghiệm dân gian mà má tin, còn tôi thì thấy điều má tin có khi đúng và những khi như thế má thường mua về cho lũ con của má ở nhà nhiều quà bánh.
 
Cũng như bao nhà khác ở vùng quê tôi, ngọn đèn dầu lạc vẫn đêm đêm xua bóng tối trong ngôi nhà của ba má tôi. Ngọn đèn soi cho mâm cơm cả nhà, cho câu chuyện gia đình sau một ngày làm lụng vất vả… Ngọn đèn cũng soi cho ba chị em tôi ngồi học bài, cho má ngồi vá may… Nhiều hôm, ba tôi cũng thắp một ngọn đèn trên nhà trên ngồi đọc sách (ông vẫn thường đọc đi đọc lại các truyện Tam quốc chí, Ngũ hổ bình Tây… ) hoặc đối ẩm ấm trà ngon và luận bàn “chuyện đời” với ông bạn già hàng xóm. Tôi cũng thường gặp nhiều gia đình ở trong xóm Chùa có những tối ở thầm, không thắp đèn; vì sợ “tốn dầu đèn” hoặc sợ đàn mũi vo ve ngoài sân theo ánh sáng đèn bay vô nhà (Hồi xưa, người ta chưa ngủ mùng như bây giờ). Hồi chín năm kháng chiến, có những đêm văn công về làng cất sân khấu giữa sân đình, thắp một hàng đèn dầu lạc lên mà biểu diễn văn nghệ. Đèn này là những nắp vung đất nung lật ngửa đựng đầy dầu, còn tim đèn là những con cúi vải của bà thợ kéo sợi  trong làng. Đêm diễn vẫn đông người xem, được nhiều tiếng vỗ tay tán thưởng của khán giả.
 
Nho sinh “thập niên đăng hỏa” (mười năm đèn sách) đi thi đỗ Cử nhân, Tiến sĩ. Trong số họ, có nhiều người có thực tài, thực học và có ích cho đời. Học sinh trường Trung học Hòa Bình ngày trước vừa đi học vừa tham gia kháng chiến chống Pháp, đã có thời gian phải học đêm thay ngày để tránh máy bay địch bắn phá. Mỗi người đi học xách theo cây đèn dầu lạc (bấy giờ gọi là đèn thẩu – thẩu thủy tinh thay cho đĩa đèn) để chong học. Khó khăn là vậy mà thầy – trò vẫn thi đua dạy tốt học tốt.
 
Ngọn đèn dầu lạc luôn có mặt trong cuộc sống và là bạn thân thiết của con người. Ngọn đèn làm chứng cho lòng thành thực của người nói: “Nói có đèn làm chứng”. Người ta gởi gắm tâm sự cho đèn: “Đêm khuya rót đĩa dầu đầy / Bấc non không cháy, oan mày dầu ơi!” (Ca dao). Đèn vẫn ở bên cạnh những cảnh ngộ éo le của con người: “Đèn chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn” (Nguyễn Du). Những đêm trăng sáng, lũ nhỏ làng An Định chúng tôi thường ra cổng làng chơi và thường vỗ tay hát rập ràng: “Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng / Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn / Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn / Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?” (Ca dao). Tôi đã nhiều lần nghe má kể câu chuyện rằng, ngày xưa ba bay mới quen má, vẫn thường thức đêm viết những lá thư xanh gởi má. Thư nào, ba cũng kết bằng câu: “Thôi nhé, giấy vắn tình dài, đĩa dầu đã cạn, em cho anh dừng bút và hẹn thư sau”!
 
Dân gian có câu chuyện cảm động về thiếu phụ Nam Xương nuôi con và trông chồng đi lính thú về. Đêm kia nàng đang ngồi trước đèn, chợt thằng bé hỏi: “Cha con đâu?”.  Nàng chỉ bóng mình in trên vách, trả lời rằng: “Cha con đó”.  Sau này, cha bé mãn hạn lính về, nó không nhận là cha mà cứ chỉ bóng trên vách bảo: “Đó là cha em và cha em chỉ đến với mẹ mỗi đêm về”. Điều này khiến cha nó sinh nghi rằng, mẹ nó ở nhà ngoại tình. Thiếu phụ không sao giải nỗi oan và nàng đã phải tự trầm mình ở bến Hoàng Giang gần nhà để mong được chồng hiểu nông nỗi mình.
 
Nhà ông Cả Lễ ở làng trên, mấy đời còn giữ được cái đèn Hoa Kỳ thắp bằng dầu hỏa. Cái đèn ấy, thân đèn và chụp đèn bằng sứ men màu trắng sữa, kiềng đèn và ba sợi dây xích treo bằng đồng. Đèn được chủ nhà treo ở nhà trên với bài trí cổ kính, cho nên vừa hợp vừa sang. Tôi thường thắc mắc, tại sao tên nó là đèn Hoa Kỳ? Mới đây đọc một bài báo nước ngoài, mới được biết nó là cái đèn “quảng cáo” của một hãng dầu hỏa Mỹ hồi đầu thế kỷ trước để họ bán được dầu hỏa ở Việt Nam, vì xứ này lúc đó  chưa chịu thắp đèn dầu lửa thay dầu lạc.
  
Có thể có trước hoặc sinh đồng thời với đèn dầu lạc là bó đuốc tre, cây đèn chai bằng dầu rái… Người ta đốt đuốc đi chơi đêm (Cổ nhân bỉnh chúc dạ du – Nguyễn Công Trứ) và đốt đèn chai đi soi ếch, nhái… Và cũng có ngọn lửa đốt lá đa, ánh đom đóm (1) thay đèn cho những anh học trò nghèo đêm đêm “ôn nhuần kinh sử để chờ kịp khoa”.
 
Cuộc tiến hóa của ngọn đèn tính đến nay đã đi xa lắm: Từ đèn dầu lạc đến đèn dầu hỏa, đến đèn điện, đèn pin... Đèn dầu lạc đã lùi quá xa vào quá khứ, và đối với nhiều người, nó đã khá mờ nhạt trong ký ức hoặc họ chưa bao giờ được nghe thấy.
 
 (1) Có tích “Tạc bích tụ huỳnh” : Đục tường
nhà láng giềng và bắt đóm bỏ vào chai để thay đèn ngồi học.
Đây nói về tình cảnh của anh học trò nghèo.
__________________
khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com
diendansuutam@gmail.com
khanhhoa@iPal.com

Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010



Tản văn Huỳnh Kim Bửu


Ví không có buổi Đông tàn”
                                                                               

           Năm có bốn mùa, mỗi mùa có thú riêng. Nguyễn Bỉnh Khiêm yêu thích cái thú của bốn mùa: “Thu ăn măng trúc Đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen Hạ tắm ao”. Vì chúng ta đang ở mùa Đông, cho nên bài này, tôi xin lạm bàn về cái thú mùa Đông ở quê tôi.
         
Mùa Đông ở đây bắt đầu từ những cơn mưa đầu mùa vào đầu tháng Mười âm lịch, thường là mưa chiều. “Tháng Mười ngó ra / Tháng Ba ngó vào” (Tục ngữ) ngó đây là ngó đám mây đen xuất hiện ở hướng bắc, thường phát cơn mưa chiều.
         Đến chừng giữa tháng Mười trở đi thì trời bắt đầu có những cơn mưa rả rích nối tiếp nhau, đó là mưa dầm, mưa tầm tã; nhìn ra dãy núi Bà thấy mây phủ, nhìn lên núi Mò O, thấy tuôn những dòng suối trắng xóa. Mưa dầm vài ba hôm, nước con sông Côn dâng cao. Cái làng quê của tôi đứng co ro trong gió mưa. Đây là lúc, các chợ quê bắt đầu bày bán những chiếc áo tơi lá, áo tơi chiếu cùng những hàng đó, giẹp, nơm, lờ đánh bắt cá đồng; đồng thời nơi gian hàng thực phẩm cũng bày bán những mẹt, những chậu cá đồng tươi sống vừa mới đơm bắt được trong lũ đầu mùa, trong nước lụt ói.
          Mấy ngày nay, người ta thường ở trong nhà, ít đi đâu ra ngoài, vì ngại cảnh đội mưa, lội bùn. Một hôm, có mấy người khách xuất hiện trên đường làng, họ vừa lội bùn bì bõm vừa say ngắm lũy tre làng ẩn hiện sau màn mưa, những mái tranh thở khói lam chiều mà họ cho là đẹp như tranh thủy mặc; được gặp và trò chuyện với những người đi đơm đó giẹp, đi đứng nhá, xúc cua trên cánh đồng nước lụt trắng lăng và nhiều tôm cá. Chẳng những thế, họ còn được hít thở mùi thơm phức của bánh xèo, cá đồng nướng, cá đồng kho, từ những mái nhà ai đó lan tỏa theo gió rồi đáp nhẹ vào mũi họ… Cũng nên nói, người quê tôi có cái thú ăn bánh xèo (đúc tôm thịt, dày) trong hơi mưa lạnh lẽo và tiếng mưa rơi rả rích. Nếu khách là người phong lưu, bậc tao nhân mặc khách được người quen trong làng cũng thuộc nòi tình cầm chân ở lại, khách sẽ được hưởng bao điều thú vị: Được mời ở trong ngôi nhà lá mái (hoặc ngôi nhà gạch năm gian hai chái) để hưởng sự ấm cúng, được cùng chủ nhân thù tạc rượu ngon, cơm canh cá đồng, đàm đạo văn chương, ngâm vịnh theo cái thú: “Thu ẩm hoàng hoa tửu / Đông ngâm bạch tuyết thi” của người xưa, mặc cho những cơn gió mưa ở bên ngoài. Cũng có thể ở đây, khách được ngắm vẻ đẹp “trong tranh” của người thiếu phụ ngồi lặng lẽ “đan đi đan lại áo len cho chồng” (Thơ TTKH) hoặc nghe chủ nhân kể câu chuyện một chinh phụ thương chồng ở trong làng, cứ mỗi độ Đông về, nàng lại sắm áo “ngự hàn” gởi ra cho chồng là chinh phu đang ở ngoài biên ải. Cảnh đó, sẽ khiến khách liên hệ đến câu thơ xưa: “Vũ vô kiềm tỏa nan lưu khách” để có cớ ở nán thêm vài bữa nữa với chủ nhân, với cái làng quê thịnh tình, hiếu khách. Trời mưa, làm cho những người có hồn nghệ sĩ hay bâng khuâng nghĩ ngợi, buồn vô cớ: “Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn” (Huy Cận) hay nhớ nhau không rõ nguồn cơn: “Mưa chi mưa mãi / Lòng nhớ nhung hoài / Nào biết nhớ nhung ai!” (Lưu Trọng Lư). Trong làng An Định, có kẻ giàu người nghèo. Người giàu mỗi năm một lần được hưởng cái thú áo dạ áo len, mền đơn mền kép. Ai có bụng tốt thì chạnh thương người chịu cảnh “cơ hàn”. Dầu sao, những gia đình nghèo cũng cố tìm cho mình có cái “thú” Đông về. Họ nằm ngủ ổ rơm mà so sánh với người có chăn êm nệm ấm, họ ăn cá đồng, ăn bánh xèo thỏa thích mà tưởng chừng mùa Đông, mặt nào đó, đã ưu đãi công bằng cho mọi người. Má mất đã mấy mươi cái giỗ, nhưng anh em chúng tôi vẫn thường nhắc những kỷ niệm mùa Đông với má. Nhớ cả nhà quanh bếp lửa hồng sưởi ấm và nghe má kể chuyện “đời xưa”, nhớ những đêm mấy má con cuộn tròn trong ổ rơm, nhớ dáng má nằm lắng nghe tiếng sấm cửa ồ ồ từ Giã (tên gọi các cửa biển, cũng để chỉ cho Quy Nhơn, theo cách gọi của dân gian thời ấy) vọng lên mà lo chuyện lành dữ của thời tiết…
         Rồi có một ngày thời tiết bỗng khủng khiếp lên: Mấy hôm bầu trời nặng như chì, kế tiếp là cơn bão từ biển Đông đổ bộ vào.
         Cả vùng thuộc hai bên con sông Côn bị bão lũ, đâu cũng xơ xác, tiêu điều. Trong làng An Định, những chiếc sõng úp lâu ngày trên rường nhà, nơi hiên nhà nay được “hạ thủy”. Sõng chở người chạy lũ, chở người đi vớt củi trôi, đi đuổi vịt đàn trôi lạc… Và kể cả những chiếc sõng đò dọc đò ngang dưới màu trời đùng đục nặng nề, màu nước bạc mênh mang. Tôi đã từng chứng kiến những túp nhà tranh gió cuốn, những ngôi nhà cũ nát trôi sông, những tình cảnh đáng thương và cả những tấm lòng vàng dành cho nhau để làm dịu nỗi đau của nhau trong ngày bão lũ tàn phá.
        Chỉ có lũ trẻ nhỏ dại khờ chúng tôi là “vô tư” trong những ngày bão lũ. Chúng tôi kéo nhau đi dẫm nước, chống sõng, chống bè, lấy bậc thềm nhà mình làm “bến thuyền”, vườn chuối nhà mình làm “xưởng đóng thuyền bè”… Tôi có kỷ niệm “ngày xưa” với thằng Nhịn, thằng Nghèo, con Nhín… trong những buổi lén má, lén anh Hai “tổ chức” hạ trộm cây chuối tơ trong vườn nhà ông Phó Thì để đóng cái bè chuối; với anh Cu Tý, người “khéo” bày tôi đi giở giẹp trộm, trút cá trộm của ông Mười Thắng để bị ông tóm cổ và nhận nước một trận thiếu điều chết… Đó, đều là những kỷ niệm đáng xấu hổ.
        Ông Trời in hình bão lâu cũng hết gió, mưa lâu cũng cạn nước, có ráng lắm thì cũng “Ông tha bà không tha, lụt hăm ba tháng Mười – Âm lịch”. Sau đó, người ta còn có non một nửa Mùa Đông, một cảnh Đông tàn với những ngày mưa phùn gió bấc. Những ngày này, nhà nông quê tôi tở mở ra đồng “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”. Nông vụ tấn thời, họ vừa lo cho vụ Đông Xuân sắp tới vừa kháo nhau: “Năm tới, nhờ mưa thuận gió hòa, đồng ruộng thế nào cũng tốt, nhà nhà sẽ được cái cảnh no đủ”. Người ta vừa làm vụ Đông Xuân vừa tổ chức đám cưới, “đẩy mạnh” mùa cưới, bởi lẽ: “Gái sao gái chẳng biết lo / Đại tuyết, Đông chí nằm co một mình” (Ca dao). Cả tháng nay, nhiều nhà trong làng An Định cất rạp, chăng đèn kết hoa làm lễ đón dâu mới, đưa con gái về nhà chồng. Đám cưới rước qua bến đò Bầu Sáo, rước đi trên đường đê hoa gạo nở đỏ rồi vào làng cho trẻ già trai gái tò mò kéo nhau ra xem, ra trầm trồ cô dâu chú rể xứng đôi vừa lứa.
         Vừa mới rảnh việc đồng áng, ba tôi liền cuốc mảnh sân rêu nhà mình để trồng rau cải… Hằng ngày, từ sáng sớm, với ấm chè nóng đặt dưới hiên nhà, kèn thuốc lá trên môi, ba tôi bón tưới, chăm chút từng rò rau cải, nâng đỡ từng cây hành ngò… Trải qua mấy tiết Đông chí, Tiểu hàn, sân rau cải của ba tôi lên màu xanh mượt. Sân rau cải của các nhà khác ở trong làng cũng nhờ công chăm bón mà lên tươi tốt trong cái se lạnh của buổi cuối Đông.
        Và cũng trong cái se lạnh cuối Đông ấy, chợ làng họp đông người, người làng An Định sắm mâm cỗ ăn Tết Đông chí để tiễn đưa mùa Đông. Mâm cỗ nhà nào cũng thịt thà, cơm canh, giò chả, con gà quay tháng Mười mập tròn, tươm mỡ (Ếch tháng Ba gà tháng Mười – câu nói dân gian). Một hôm, ông Tú An Định (ông tên Lễ, đỗ Tú tài, nhưng người ta lấy tên làng gọi thay tên ông để tỏ sự kính trọng) đến nhà tôi chơi, đứng hồi lâu nhìn ngắm những chậu hoa mai, hoa cúc, hoa vạn thọ… trên thềm nhà nở hoa sớm và những giàn đậu Ngự, đậu Hòa Lan rung rinh hoa trái đầu mùa, ông cao hứng ngâm: “Ví không có buổi Đông tàn / Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày Xuân” rồi theo chân ba tôi vào nhà uống trà.

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

Tản văn của Huỳnh Kim Bửu


ĐÌNH  LÀNG


          Rằm tháng giêng, về An Nhơn. Mặc cho trời giá rét, người đi du Xuân vẫn nhộn nhịp, trong sân nhiều nhà vẫn còn rực rỡ sắc mai vàng, nhiều làng tổ chức lễ cúng kỳ yên và hát bội. Tôi đã ở lại với bà con làng An Định ba ngày đêm để xem hát và nghe chuyện về cái đình, do mấy người trung niên và các cụ bô lão trong làng kể lại. “Trong các làng quê, làng nào chẳng có một ngôi đình! Mà nghe nói ở thành phố Quy Nhơn cũng có đình: Đình Cẩm Thượng, đình Xuân Quơn..  Đình làng quen thuộc quá đối với mọi người: Như trong ca dao “Hôm qua tát nước bên đình/ Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen…”.
          Đình làng An Định của mình ở trung tâm điểm của bốn xóm: Xóm Miễu Đông, xóm Miễu Tây, xóm Miễu Nam và xóm Miễu Bắc. Các xóm châu tuần với đình. Nhìn từ xa, khách thăm làng đã thấy nóc đình hiện lên từ một vùng cổ thụ xanh um. Con đường dẫn tới đình tẽ ra từ đường làng. Đình là một tòa nhà năm gian chái, uy nghi cổ kính. Mái đình lợp ngói âm dương, nóc đình đắp lưỡng long chầu nguyệt, mặt tiền của đình sau một lần cửa võng là lớp cửa bàn khoa; nội thất đình đủ các thứ hoành phi, liễn đối, long ngai, thần chủ rực rỡ vàng son, và đầy vẻ đẹp của những hoa văn, họa tiết chạm khắc trên mái, trên rui, trên kèo, trên trính… bên cạnh đình là những nhà tả gian, hữu gian và những hành lang. Đình có sân rộng ở trước, có bình phong trụ biểu với nhiều nghê đá, sư tử đá ở trong sân và ngoài cùng là cửa tam quan.  Cửa tam quan soi bóng nước ao sen và đón gió đồng làng. Làng lớn như làng An Ngãi. làng Biểu Chánh, đình làng 7 gian 2 chái có ao sen trước đình rộng tới mấy mẫu. Đa số các ngôi đình ở quê tôi đều hướng mặt vào Nam, chỉ có một ít đình do thuật phong thủy mới quay mặt hướng khác, như đình Thuận Thái quay mặt ra hướng Bắc…
          Đình làng được lập ra để thờ Thánh hoàng. Tượng Thành hoàng ngồi trên long ngai đặt nơi bàn thờ giữa, các bàn ở hai bên thờ các bộ hạ của Thành hoàng. Nếu không có tượng Thành hoàng thì có thần chủ, bài vị thay thế. Mỗi làng có vị Thành hoàng riêng.Làng theo nghề thợ dệt thì thờ Thành hoàng là người có công dạy dân nghề canh cửi. Làng đúc đồng, thờ Thành hoàng là người đem nghề đúc đồng về làng. Thành hoàng như vậy thường xuất thân từ trong dân, rất gần gũi với dân. Tuy nhiên, cũng có làng – như làng Háo Đức – đình làng thờ ông Quan Vân Trường (Quan Công) và các ông Quan Bình, Châu Xương (thời Tam quốc). Làng An Định của tôi thờ Thành hoàng là ông thầy đồ Trần Văn Huấn, không biết quê ở đâu đã đến đây dạy học. Bên cạnh đình có lập nhà thờ “Ông Lớn”. Ông Lớn tên Lê Đình Xuân, là người trong làng, đỗ khoa thi võ ra làm một chức quan võ của triều Nguyễn. Dân coi vị Thành hoàng nào cũng là Phúc thần, luôn phò hộ độ trì cho những dân làng lương thiện.
          Đình có hương khói hằng ngày, mỗi tháng đến ngày sóc (mồng một), vọng  (rằm) đều có cúng trà nước, hoa, chuối. Công việc này do ông từ làm: “Lừ đừ như ông từ vào đền”. Hằng năm. Đình có hai lần tế lễ, hội hè lớn; Đó là lệ  “ Xuân Thu nhị kỳ”: mùa Xuân cầu quốc thái dân an (kỳ yên), mùa Thu tạ ơn Thành hoàng đã bảo vệ dân làng tai qua nạn khỏi và làm ăn thịnh đạt. Đó là những dịp dân làng được ăn uống (hương ẩm), được vui chơi. Ăn uống thì “một miếng thịt làng bằng một sàng thịt chợ”, “một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”. Ai cũng lấy đó làm điều sung sướng, làm niềm vinh dự. Hương chức nhìn vào đó mà hiểu rõ thêm cái câu nói mình đã thuộc: “Dân dĩ thực vi tiên” (Dân lấy cái ăn làm trước) (1) lấy đó làm trách nhiệm lo cái ăn cho dân. Còn vui chơi thì xem hát bội và chơi các trò: Kéo co, đô vật, đập ấm, bịt mắt bắt dê, đánh cờ người,… Đình mà không đám, có khác gì chùa cho bổn đạo về tụng kinh. Phải chăng từ đó mà có từ “đình đám” trong ngôn ngữ dân gian mà ta thường gặp? Ông Phi cha rồi ông Phi con, nhà hai đời làm ông từ giữ đình An Định. Mỗi khi làng cúng, ông Phi cha được làm phụ thợ chả, nhờ thế mà học được nghề. Đến khi già, ông truyền lại cho con “chức” ông từ giữ đình và nghề mang dao thớt đi khắp làng để mổ lợn, quết chả làm đám.
          Hương chức làm việc tại đình, họp dân để bàn và “triển khai” việc làng tại đình ( Nhà Hữu giang còn được gọi là nhà hương hội). Thành hoàng giám sát các việc vua của làng, “nghị quyết” của làng đã có thần linh chứng giám, buộc mọi người phải làm đúng, làm nghiêm chỉnh cho dù có phải cãi lại phép vua  (Phép vua thua lệ làng). Xem như thế, làng quan trọng biết chừng nào. Mà làng quan trọng thì cái đình cũng quan trọng theo.
           Đêm hát thứ ba là đêm hát San hậu thành, sân khấu thiếu điều ngả nghiêng  vì hát hay và không khí phấn khởi của hồi tôn vương. Sau đêm hát, tôi về nghỉ đêm ở nhà cụ Tú Lễ 80 tuổi, vẫn còn minh mẫn. Cụ thức đến gần sáng, uống rượu và nói tiếp câu chuyện bỏ dở hôm qua: “Ôi chao! Hễ đi xa thì nhớ cái đình như nhớ nhà. Cũng phải thôi, vì mình còn nhỏ, hằng ngày ra đình nhặt quả bàng khô, om cột đình làng bóng xoay tít quay với chúng bạn cùng lứa tuổi, chờ có lễ hội ở đình đi xem. Đến khi cao niên được làng mời ra đình đọc chữ Nho, cầm chầu dám hát, ăn uống ngồi chiếu trên, lại còn được thằng mõ đưa cái thủ lợn về nhà…”. Cụ dừng lại uống rượu, tôi hỏi: “Thưa bác, chữ  “đình” có ý nghĩa gì trong từ triều đình? Cụ lại hớp một ngụm rượu, gật gù, rồi nói: “Chà! Câu hỏi bất ngờ mà lý thú lắm. Triều là nơi của hương lý, của làng. Vạn làng hợp lại thành nước. vạn làng yên vui thì nước yên vui, thái bình. Còn nữa, giặc ngoại xâm vào thì giày xéo, tàn sát dân làng trước hết, cho nên vạn làng lo đánh giặc giữ làng, thành ra cả nước đánh giặc giữ nước”. Tôi già, nôm na mách qué thế, xin chú đừng trách!”. Nói xong, cụ quay ra ngủ khì… Chỉ còn có tôi thức với bao ý nghĩ về làng và cái đình làng./.
…………
(1) Cũng nói “Dân dĩ thực vi thiên”: Dân coi cái ăn bằng Trời,


Thơ Huỳnh Kim Bửu


Cảm xúc


Tôi về tìm lại ngõ xưa
Rêu phong nếp cũ, giọt mưa rơi buồn
Tưởng chừng ngày cũ đưa hương
Mà lòng như dạ lý hương thơm nồng.

Thương ai qua mấy nẻo vòng
Gặp hoa mắc cỡ nở hồng lối trưa
Vườn xưa xoài mận đung đưa
Thanh u một cõi giấc trưa đầy cành

Nhớ làm sao những giọt tranh
Mở bàn tay hứng tuổi xanh ngọc ngà
Hứng lời câu hát dân ca:
“Trách lòng bạn ngọc sao mà mau quên”

Tôi về đi lại lối quen
Cơn mưa bất chợt, mái hiên nhà người
Tình như giọt nước còn tươi
Trinh nguyên từ thuở mây trời rơi nghiêng.

Chủ Nhật, 28 tháng 11, 2010

Bộ Phản (ván ngựa)

Bộ Phản (ván ngựa)


www.nhagovietnam.vn - Bên trong các ngôi nhà cổ, chủ nhà thường trưng diện nhiều đồ gỗ quý giá: án thờ, tràng kỷ, tủ chè ... Và thường không thiếu bộ phản.

Phản là một bộ ván, thường từ 1 đến 2, 3 tấm ván ghép lại, đặt trên một bộ chân phản vững chải, còn gọi là bộ ngựa. Phản là loại tiện nghi đồ gỗ, dùng để nằm, ngồi, như giường, chõng... Mỗi tấm ván thường có gáy từ 15 - 20cm, rộng 0,6m, dài 1,8m. Phản là tên gọi chung của các loại phản, chớ còn có phản gõ, bộ gõ, ngựa gõ (phản làm bằng gỗ gõ - khá phổ biến) phản vuông (có mặt phản hình vuông), phản giữa, phản chái (do vị trí phản đặt ở trong nhà) ... Người ta cũng hay gọi phản: bộ ván ngựa. Hồi xưa, những đồ gỗ quý thường được chạm trổ, nhưng phản là một trường hợp ngoại lệ, không chạm, tiện, chỉ cần cưa cắt thẳng, bào láng. Ngoại trừ bộ chân đế được tiện hình mũi hài, hình lưỡi ốc sên, cho vừa đẹp vừa vững. Những bộ ván ngựa xoài, mít và gỗ tạp... thường mỏng, đặt trên bộ chân đế thẳng, không tiện.

Giá trị của các bộ phản tùy thuộc vào cây gỗ danh mộc hay tạp, sự dày mỏng và số tấm ván ghép lại. Phản giá trị nhất là phản gõ, do 3 tấm ghép lại, tạo thành phản vuông (1,8m x 1,8m), bề thế. Ngôi nhà cổ ở Bình Định là các nhà lá mái 3 gian hoặc 5 gian hai chái, nó sang trọng từ ngoài tới trong: kể từ bậc thềm đá ong, nền gạch Bát Tràng, hàng ba cột hè, hàng cửa cổng, bàn khoa... đến bên trong nhà - nơi có một không gian nội thất âm u, tĩnh lặng được làm bằng cột, kèo, đà, ván chạm hoa văn và hiển hiện một màu nâu láng của nước gỗ. Trong nội thất đó, người ta tùy theo giá trị và sự bề thế của phản mà tìm chỗ kê đặt cho thích hợp, tương xứng. Bộ gõ vuông bao giờ cũng đặt ở gian giữa nhà (nên còn gọi phản giữa) những bộ gõ 2 tấm trở xuống đặt ở gian chái tây mở cửa sổ ra vườn cây, còn gọi phản chái. Nhiều nhà có bộ ván đặt ở hiên trước, ngó ra sân, ra ngõ. Cách bài trí phản trong đình, chùa cũng chẳng khác mấy các tư gia; chỉ khác, đình, chùa có không gian nội thất lớn, cho nên kê đặt được nhiều bộ phản hơn.
Người ngồi phản có ngôi thứ, chứ không phải ai muốn ngồi vào phản nào cũng được. Chỉ có bậc trưởng thượng mới được ngồi phản giữa (cũng có tên gọi phản vuông), còn phản chái dành cho hàng vai vế thấp hơn. Nội tôi được người trong làng An Định gọi là Ông Cả. Trong gia đình, chỉ có Nội ngồi phản giữa, mỗi khi có khách là thầy Đồ Thịnh, ông Tú tài Hiến, ông Cử nhân Đạt...đến chơi nhà, Nội mời khách cùng Nội ngồi phản giữa; khi ra đình họp hương đảng, Nội cũng được mời ngồi phản giữa cùng với các bô lão, kỳ mục khác trong làng An Định. Vì việc ngồi phản giữa, phản vuông là vinh dự, cho nên nảy sinh ra cái tệ trong hương đảng: Tranh ngồi trên, tức tranh chức quyền và ngôi thứ. Trên phản giữa thường được đặt cái tợ (bàn con, chân thấp) ở giữa; ở xung quanh là các gối xếp (gối nhiều tấm vuông, may liên kết, chồng khít lên nhau, có thể mở thấp cao tùy ý). Trên tợ đặt kỷ trà, xe điếu, ống nhổ, sòi thuốc lá ...Dưới gầm tợ để sẵn một chồng chừng 4 -5 cái quạt lông gà nhuộm xanh đỏ tím vàng, hình trái tim, tra cán dài. Trong những ngôi nhà lá mái, vẫn có những bộ ván tạp đặt dưới nhà bếp, cho bà nội tướng dọn mâm cơm thường bữa của gia đình.
Người quê tôi vẫn "ca ngợi" thú nằm phản gõ. Phản gõ hình như để ngồi là chủ yếu, nằm thì cũng chỉ ngả lưng tạm nơi phản chái, không được nằm phản giữa, vì ở trước bàn thờ gia tiên. Ai nằm phản gõ thì được hưởng một cái thú tuyệt hảo: Hơi mát từ phản gõ tỏa ra rồi thấm vào làn da, thớ thịt, nhất là trong thời tiết nóng bức của mùa Hè. Mà cái hơi mát đó ở đâu? -Trước hết, ở trong thớ gỗ gõ, rồi thớ gỗ gõ lại được tẩm một lần hơi mát nữa của không gian nội thất nhà lá mái. Cũng nên nói, nhà lá mái ở quê tôi là một kiểu nhà đặc biệt, trát vách đất hom vôi, hai lớp mái: mái trên lợp tranh rạ, che nắng mưa; mái dưới đắp lớp đất nhồi rơm dày trên lớp sìa đan nan tre (hoặc trên lớp ván dày đóng khít nhau) giữ cho bên trong nhà luôn dịu mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông. Phản gõ chỉ thích hợp với nhà lá mái với vườn tược xung quanh, chỉ có nhà lá mái mới "phát huy" được cái thế mạnh của phản gõ; không thích hợp với nhà xây gạch, lợp ngói Tây, nhà ống đúc bê tông của thời nay. Ở quê tôi, các gia đình giàu sắm phản gõ, đặt bên cạnh tràng kỷ, tủ chè, giường hộp, để làm tiện nghi sinh hoạt, chủ nhà thể hiện trọng cổ, làm của cải truyền tử lưu tôn... Nhà bình dân cũng ráng sắm bộ ván mỏng để thêm chỗ ngả lưng sau buổi lao động mệt nhọc, gặp lúc cần vác ra bờ mương, tấn ngang mương, tháo nước vào ruộng, cũng tiện. Kỷ niệm tuổi thơ ấu đáng nhớ nhất của mấy anh em nhà tôi với các bộ phản là mỗi khi cha mẹ vắng nhà, chúng tôi bày ra một đám hát bội, lấy một bộ phản làm sân khấu, còn tuồng tích thì sẵn thuộc lòng Cổ thành, San hậu...
Đọc văn chương bình dân, gặp không ít ca dao, câu đố về cái phản:
"Đưa lưng cho thế gian nhờ
Lòng ngay dạ thẳng bị ngờ bất trung"

...

"Anh cưới em chẳng phải bạc tiền
Mời anh ngồi phản chái, cha "riềng" đôi câu:
Đã thương thì phải thương lâu
Tới chừng đầu bạc vẫn âu duyên tình
Cha mẹ ngồi phản giữa tác thành
Nhận sính lễ một trăm quả cau xanh, đủ rồi".

Còn nhiều lắm. Trong dân gian Bình Định xưa giờ, người ta vẫn thích kể chuyện: Lía lập sơn trại ở Truông Mây (*) để đánh đổ bất công, cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo. Một đêm ở nơi sơn trại, Lía đang ngủ say trên phản gõ, bất thình lình bị quân Tổng đốc Bình Định tấn công, chàng giật mình thức dậy, không sẵn gươm dáo, bèn xách phản làm vũ khí chống cự. Đánh một chặp, quân Tổng đốc khiếp hãi, thua, chạy tán loạn. Lía Thắng trận, nhưng mệt quá, bèn bứt dây rừng, cột phản đeo trên lưng, thủng thẳng đi đến một sườn núi, tựa lưng mà nghỉ.
Thời vàng son của phản gõ đã qua rồi, cái thời kéo dài tới ngàn năm! Đó là thời ông cha ta ở nhà lá mái, mặc áo dài khăn xếp, bộ vạt hò, nói chuyện chi hồ giả dã...Các cụ ngồi phản gõ, xếp bằng xung quanh tợ, xung quanh kỷ trà, một cánh tay, một hông tựa vào gối xếp, phe phẩy quạt lông...Ngồi lâu, đến bình trà nhiều lần súc bã, chuyện thêm đề tài mà hứng chí cứ tăng thêm. Ngày nay, nhà lá mái mỗi ngày mỗi ít, phản gõ cũng bởi đó mà ít theo. Ít thấy có chủ nhân những ngôi nhà Tây, nhà hiện đại có ý tưởng sắm bộ phản, nếu thấy cần, họ đã có tấm đi-văng thay. Người thời nay mặc Âu phục, bụng bự, nói chuyện từ trên xa lộ thông tin kéo xuống, nhỡ mà có được nhà hoài cổ nào đó mời ngồi phản gõ uống bia Tiger, thì anh bạn thấy trước như mình sắp bị tra tấn, hành xác, cho nên tìm cách lãng. Sự vât hiện hữu phụ thuộc vào cái dụng, một khi cái dụng không còn nữa thì sự vật mất, chỉ tội cho cuộc sống bị giảm đi ít nhiều lý thú.

(*) Lúc Lía bị bao vây lâu, Ca dao Bình Định có câu:
"Chiều chiều én liệng Truông Mây
Cảm thương chú Lía bị vây trong thành".
Lại còn có Vè chàng Lía lời lẽ bi tráng để cảm thương người nghĩa khí.


Huỳnh Kim Bửu

This article was originally published in forum thread: Bộ Phản (bộ ngựa) started by nhagovietnam View original post